Trang Chính   Hình Ảnh   Âm Nhạc   Pháp Âm   Video   Trắc Nghiệm Phật Học 

   Hôm nay, ngày 22/7/2017
TÌM KIẾM  

Trong:

TRANG NHẤT > PHÒNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ
Cỡ chữ:  Thu nhỏ Phóng to
Cập nhật ngày 27/07/2016 (GMT+7)

Về Một Vì Sao Vừa Khuất

Về Một Vì Sao Vừa Khuất 
(Hoàng Văn Giàu)
Bài sau đây (do tác giả Hoàng Văn Giàu chấp bút) là bài viết duy nhứt của giới Cư Sĩ PGVN trước đây được chọn đăng vào Kỷ Yếu “Tưởng Niệm Đức Đại Lão Hòa Thượng Đ Nhất Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” (Ngài đã An Tường Xả Báo Thân vào lúc 20 giờ 45 phút ngày 23 tháng giêng năm Quý Sửu – 25.12.1973).
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết - 1891 - 1973.
Để vọng bái Giác linh Ôn và tưởng nhớ những Thầy, những bạn, những anh em 1963.

   Mùa hạ năm 1963, phong trào bảo vệ tín ngưỡng của PGVN bùng nổ sau vụ chính quyền cấm treo giáo Kỳ và vụ thảm sát ở đài phát thanh Huế. Mục tiêu của phong trào được đúc kết thành nguyện vọng năm điểm. Tiếp nối là cuộc tuyệt thực của Sinh Viên. Chùa Từ Đàm biến thành trung tâm vận động, tràn ngập Tăng Ni, Phật tử mà đa số là những thành phần trẻ, những Thầy của “Hội”.

   Trong những ngày căng thẳng ngột ngạt đầu tiên đó, trong viễn ảnh một cuộc đấu tranh chênh lệch, cam go như David đối đầu với Goliath đó, mọi người đã tin tưởng hơn, yên lòng hơn khi thầy “Ôn” cũng chịu tạm rời Tường Vân về Từ Đàm “Với anh em”. Hòa Thượng Hội Chủ đã có mặt ngay trong những giờ phút đầu tiên! Có lẽ chính Ôn cũng không hề nghĩ đến sự hiện diện của Ôn đã có một tác dụng sâu xa đến như thế.

   Suốt cuộc đời Ôn đã sống như tu, đã đấu tranh như sống nên Ôn không hề kết toán thành quả, và cũng không ai dám nghĩ đến chuyện đó đối với Ôn. Khi Ôn tịch, và đã phải mất gần tuần lễ mới hoàn tất tiểu sử của Ôn. Ngồi dưới bóng mát ai mà nghĩ đến tàng cây huống nữa là đếm cành, đếm lá. Bởi lý, sinh thời Ôn đã là biểu tượng thân thiết và thiêng liêng của PGVN hiện đại.

   Từ khi PGVN chuyển mình phục hoạt, Ôn đã có mặt, như một kẻ đầu tiên, như một người cầm lái. Quả vậy, mỗi tước vị của Ôn đã đánh dấu thành quả của một giai đoạn trong quá trình phục hoạt đó.

   Chứng Minh Đạo Sư Sáng Lập AN NAM Phật Học Hội, và Giám Đốc Đạo Hạnh Phật học Viện Tường Vân – Bảo Quốc.

   Thế kỷ 20 khởi đầu bằng một chuỗi những biến cố trọng đại khiến cho thế lực Tây Âu bắt đầu lung lay và khuynh hướng nhược tiểu ái quốc phát sinh mãnh liệt. Các biến cố đó là chiến tranh Nga – Nhật, cuộc cách mạng Trung Hoa, chiến tranh 14.8, sự sụp đổ của triều đại Nga hoàng…

   Theo đà đó các phong trào yêu nước của VN cũng đã phát khởi. Thoạt tiên là phong trào Duy Tân Đông Du chủ trương tranh đấu ôn hòa bằng giáo dục và xã hội, kinh tế. Phong trào này thất bại khiến cho khuynh hướng vũ trang bạo lực tàn lụi từ sau những thất bại của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám được dịp tái hiện. Tột đỉnh của khuynh hướng này là cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Nguyễn Thái Học. Cuộc khởi nghĩa này cũng thất bại và tiếp sau là những biện pháp đàn áp khốc liệt của Pháp nhằm triệt hẳn những mầm móng “khởi loạn”.

   Chính trong hoàn cảnh ngửa nghiêng tan nát đó mà phong trào chấn hưng PGVN hình thành từ những năm 1930. Phong trào này có thể nói đã chịu hai ảnh hưởng: thứ nhất là ý chí phục hoạt Đạo Pháp theo khuynh hướng cách mạng tôn giáo do Thái Hư Đại Sư phát khởi ở Trung Hoa đồng thời, thứ hai là ý thức gầy dựng tôn giáo để góp phần phục vụ dân tộc giữa lúc vận nước điêu linh, tủi nhục. Chủ chốt của phong trào đó là một số các Tăng và tín đồ hữu tâm, tiến bộ.

   Hai công tác chính của phong trào là thứ nhất bổ khuyết tệ trạng “tu mà không học” bằng cách mở Phật Học Đường hay Phật Học Viện mà nổi tiếng nhất là P.H.Đ Tây Thiên, Trúc Lâm, Tường Vân, Bảo Quốc ở Huế, Quán Sứ ở Bắc, Phật Học Viện của hội Lưỡng Xuyên ở Nam. Lại có các trường dành cho Ni chúng như Ni trường Chùa Bồ Đề ở Bắc, Ni trường Chùa Diệu Đức ở Huế. Phần lớn các Tăng, Ni và Cư Sĩ phải gánh vác những trọng nhiệm đối với PGVN sau này đều xuất thân từ các trường Phật Học đó. Công tác thứ hai là vận động thành lập những Phật Học Hội để quy kết sáng kiến, điều hợp nhân lực giữa Tăng già và Cư Sĩ để thành đạt mục đích của phong trào. Do đó, ở Trung có An Nam Phật Học Hội, ở Bắc có Bắc Kỳ Phật Giáo Tổng Hội, ở Nam có Lưỡng Xuyên Phật Học Hội, và trước đó đã có Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học Hội

   Để cổ xúy cho phong trào, các Hội Phật Học đã lần lượt cho xuất bản các tạp chí như Từ Bi Âm ở Nam (1932), Viên Âm ở Trung (1933), Đuốc Tuệ ở Bắc (1934)…

Nền tảng của PGVN hiện đại có thể xem như đã được xây dựng vững chãi.

   Tùng Lâm Pháp Chủ Trung Việt

Ngoài tước vị Chứng Minh Đạo Sư Sáng Lập An Nam Phật Học Hội và Giám Đốc Đạo Hạnh Phật Học Viện Tường Vân – Bảo Quốc mà Ôn đã giữ trong thời kỳ PGVN chuyển mình phục hoạt như vừa kể trên, một tước vị khác của Ôn đã rất có ý nghĩa đối với quá trình chấn hưng PGVN hiện đại đó là tước vị Tùng Lâm Pháp Chủ Trung Việt hay Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Trung Việt.

   Lồng trong hệ thống Phật Học Hội, các tổ chức thanh niên, giáo dục, xã hội từ thiện đã được phát triển mạnh. Công cuộc đoàn ngũ hóa Phật tử cũng được lưu tâm. Đặc biệt ở Trung, cơ sở hạ tầng của PG là các Khuôn Hội đã được phát triển sâu rộng từ thành thị đến nông thôn.

   Qua sự hình thành của những hoạt động và tổ chức tiên khởi này, người ta có thể thấy được cái ý định về một Giáo Hội PGVN đang dần dà tượng hình qua sự đổi thay danh hiệu tổ chức, nhất là ở Trung, chủ lực quyết định của phong trào phục hoạt PGVN lúc bấy giờ.

   Quả vậy, An Nam Phật Học Hội (tức Hội Phật Học Trung Phần) đã được cải danh thành Hội Việt Nam Phật Giáo Trung Phần. Qua sự cải biến đó, người ta có thể thấy được ước vọng về một Giáo Hội PGVN của những thành phần chủ động phong trào. Ước vọng này lại càng thâm trầm, bức thiết hơn khi mà Phật Giáo thời bấy giờ lại đang bị chi phối bởi các luật lệ khắt khe của Chính quyền bảo hộ Pháp về toàn thể hiệp hội.

   Và có lẽ cũng vì ý định vừa kể nên song hành với các tổ chức hỗn hợp của Tăng già và Cư Sĩ là các Phật Học Viện như trên, các tổ chức thuần túy sơn môn cũng đã được xúc tiến thành lập, thoạt tiên là ở Trung. Nhờ đó mà tổ chức Sơn Môn Tăng Già ra đời, đặt nền móng cho một cơ cấu Giáo Hội đang dần dà hình thành.

   Đầu năm 1947, lịch sử dân tộc chuyển vào một khúc quanh mới, Pháp trở lại Việt Nam và phong trào yêu nước bừng lên mãnh liệt. Các thành phần tăng già cũng như cư sĩ hữu tâm với tiền đồ của Việt Nam và Phật Giáo đã thấy cần phải có một cơ chế mới khả dĩ điều hợp mọi cố gắng phục vụ của mọi tầng lớp Phật tử VN. Giáo Hội Tăng Già được khai sinh và Sơn Môn Tăng Già Trung Phần biến thành Giáo Hội Tăng Già Trung Phần do Ôn lãnh đạo với tước hiệu Tùng Lâm Pháp Chủ hay gọi tắt là Pháp Chủ. Ở Bắc thì cũng có Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt, và ở Nam, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.

   Phần quyền thiết yếu đối với việc xây dựng một Giáo Hội như vậy là đã được hình thành.

   Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam

   Cách mạng mùa thu bùng nổ, toàn dân nô nức tham gia. PGVN cũng đã có mặt trong cao trào dân tộc đó. Tổ chức Phật Giáo Cứu Quốc ra đời.

   Nhưng người Phật tử hữu tâm không bao giờ quên tín ngưỡng trong lúc phục vụ đất nước. Cũng vì thế tờ Giải Thoát, tiếng nói của P.G.C.Q đã có tiêu đề “Cơ quan nghiên cứu và áp dụng đạo Phật vào đời sống mới” và đồng thời thể hiện niềm thao thức của những người Phật tử muốn biến đạo Phật thành một đường lối sinh hoạt của một xã hội đang muốn vươn tới cách mệnh (đổi mới, dứt bỏ ách nô lệ bởi thực dân ngoại bang lên quê hương xứ sở? – tqd).

Và cho đến khi mà hàng ngũ lãnh đạo cách mạng bị phân hóa vì những dị đồng chánh kiến và tranh chấp thế lực giữa lúc nền độc lập quốc gia mới được khai sinh non nớt và đang gặp trăm ngàn hăm dọa thì tiếng nói Giải Thoát đã không dấy nổi niềm xao xuyến thất vọng của người Phật tử yêu nước nhập cuộc trước “trạng huống bất đồng chính kiến, chia rẽ và thanh toán giữa những chánh đảng đã từng góp sức vào cách mệnh” (trích dẫn, Thích Nhất Hạnh – Hoa Sen Trong Biển Lửa).

   Ý nghĩa của những xao xuyến ấy không những chỉ nói lên sự thất vọng, âu lo khắc khoải của những người thành tâm phục vụ dân tộc mà gặp phải những điều kiện bất lợi, nhưng đồng thời những xao xuyến này cũng chứng tỏ người Phật tử VN đang bắt đầu ý thức được vị thế và vai trò của một tôn giáo dân tộc (Điều này – một tôn giáo dân tộc – được khẳng định mang tính truyền thống, bởi lẽ vì nó không bị chi phối và lãnh đạo bởi bất kỳ một cơ chế mang tính giáo phiệt ngoại bang nào cả – tqd) trong giai đoạn lịch sử vừa khởi diễn nhưng cũng đã hàm chứa nhiều tình tiết rối rắm, phức tạp.

Dần dần cuộc chiến Việt – Pháp đã lồng thêm cuộc nội chiến quốc cọng: người Việt Nam chống Pháp, người Việt Nam giết nhau. Khổ nhất vẫn là những người Việt Nam yêu nước không theo thực dân nhưng cũng không thể chấp nhận đường lối độc tôn ý thức hệ. Phật tử Việt Nam là một trong các thành phần ở vào trường hợp ấy. Và cũng bởi sự phủ nhận nhị diện này nên PGVN đã bị chính quyền thực dân trừng trị ngày 06.8.1950. Dụ số 10 được ban hành, đặt PGVN vào vị trí những hội đá bóng, đua ngựa! (Đến thời ông Cato Roma Ngô Đình Diệm – 1954 – 1963 –  vẫn tiếp tục duy trì Dụ số 10 do thực dân Pháp để lại này – tqd).

Trước những áp lực ngày càng đè nặng về cả hai phương diện tín ngưỡng và xã hội, các tập đoàn PG hình thành trong giai đoạn vừa qua đã phải gấp rút tìm cách kết hợp để ứng phó. Ngày 06.5.1951, một đại hội PGVN toàn quốc đã được triệu tập tại Huế quy tụ sáu đoàn thể đại diện Tăng già và cư sĩ Nam, Trung, Bắc (3 đoàn thể Tăng già, 3 “Phật Học Hội”) kết quả của đại hội lịch sử này là lần đầu tiên các tổ chức PG đã được nhất thống dưới danh nghĩa Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam mà Ôn là Hội Chủ.

   Chủ Tịch Tối Cao Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo

   Công tác chính của T.H.P.G.V.N là một đàng đoàn kết nội bộ, phát triển cơ sở, tổ chức khả dĩ để đối phó với Dụ số 10; đàng khác, xây dựng đạo lực và phát huy ý thức phục vụ của người Phật tử.

   Công tác đó đang được tiến hành thì chiến tranh chấm dứt, đất nước bị qua phân.

   Tại miền Nam Việt Nam, chế độ Ngô Đình Diệm được thành lập. Dụ số 10 vẫn được duy trì như một phương tiện kỳ thị, đàn áp đối với PGVN. Từ năm 1956 trở đi, PG càng ngày càng bị nhiều áp lực nặng nề. Biện pháp đó lộ liễu đầu tiên của chính quyền nhắm vào PG là phủ nhận ngày lễ Phật Đản bằng cách loại bỏ ngày này khỏi danh sách các ngày nghỉ lễ chính thức (Ngày “Chúa giáng sinh” thì đâu có bị mang số phận bất hạnh như thế!? – tqd).

   Thế nên PG đã phải báo động để tự vệ.

   Tháng 02.1962, nhân danh Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ôn đã gởi cho Tổng Thống và Quốc Hội tập hồ sơ ghi lại hơn năm mươi trường hợp kỳ thị, khủng bố, đàn áp điển hình tại các tỉnh miền Trung với lời khuyến cáo: “…muốn tránh cho lịch sử dân tộc một chấm đen đồng thời muốn ngăn ngừa một tai họa quốc gia khi mà hàng Phật tử… thấy cần bảo vệ đúng mức tôn giáo của mình!”

   Chế độ Ngô Đình Diệm đã bỏ qua những lời lẽ nhẫn nhục chân thành nhưng cương quyết đó. Hành động kỳ thị, khủng bố, đàn áp gia tăng mà giọt nước cuối cùng khiến ly nước phải đổ tràn ra ngoài chính là biến cố mùa Hạ 1963.

Một tuần sau vụ đàn áp đẫm máu tại đài phát thanh Huế, PG đã phổ biến một tuyên ngôn năm điểm nguyện vọng yêu cầu chánh quyền thừa nhận trách nhiệm trong vụ đài phát thanh Huế, chấm dứt chánh sách kỳ thị, thực thi tự do và bình đẳng tín ngưỡng đối với PGVN.

Với năm nguyện vọng này, PGVN đã tự minh thị phong trào vận động của mình là hoàn toàn có tính cách tự vệ trong giới hạn tín ngưỡng. PG không tấn công thẳng vào toàn bộ những sai lầm của chế độ mà chỉ nhắm vào một khía cạnh hạn hẹp là chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ. Chế độ hẳn đã thừa biết điều đó. Nhưng, thay vì giải quyết ổn thỏa, chế độ lại cố đi xa hơn trong âm mưu biến cuộc tranh đấu của PG về chính sách bình đẳng tôn giáo thành cuộc “thánh chiến” với chế độ để có cớ triệt hạ PG. Cũng vì thế mà PG đã bị dồn vào một hoàn cảnh “Không thể lùi”, như một con thuyền đã bị đẩy ra giữa giòng nước lũ, đành phải chèo chống không thể rời tay.

   Chủ lực và trung tâm vận động được chuyển từ Huế vào Saigon. Đại hội bất thường của T.H.P.G.V.N được triệu tập ủy nhiệm công cuộc vận động cho một cơ cấu mang tên Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo mà Ôn là Chủ Tịch Tối Cao.

   Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

   Bởi lý chế độ Ngô Đình Diệm đã chỉ dành cho tương lai PG một ngõ cụt diệt vong cho nên chuyện phải đến, đã đến: hai tháng rưỡi sau ngày ký Thông Cáo Chung giữa PGVN và chế độ, đến 20 tháng 8, tất cả cơ sở PG toàn quốc đều bị quân đội, cảnh sát, mật vụ tràn ngập bố ráp, tất cả những thành phần lãnh đạo và tham gia phong trào đều bị bạo hành, giam giữ. Ôn là một trong số những nạn nhân.

   Một trong những mục tiêu của phong trào bảo vệ tín ngưỡng là tố cáo chánh sách “Kỳ thị, bất công, gian ác” đối với PGVN. Lời tố cáo đó một lần nữa, và cũng là lần cuối cùng, đã được thực chứng trong đêm 20 tháng 8. Đêm lịch sử này đã là một bằng cớ hùng hồn cho mọi người thấy rõ chế độ đệ nhất Cọng Hòa đã không tôn trọng nhân quyền, không thực thi tự do, dân chủ, và đồng thời cũng không tha thứ cho bất cứ cá nhân, đoàn thể nào dám lên tiếng đòi hỏi những quyền thiêng liêng căn bản đó.

   Sự kiện đó đã đẩy mọi tầng lớp và thành phần dân chúng đến chỗ phải quyết định. Và dân chúng đã lựa chọn: đệ nhất Cọng Hòa không còn lý do để tồn tại nữa. Quyết định lựa chọn này đã được thể hiện trong ngày 1.11, và đồng thời là nguyên nhân quyết định thành công  của ngày 1.11.

   Tháng Giêng năm 1964, 11 tập đoàn Tăng và Cư Sĩ Nam, Bắc Tông từng tham gia Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đã nhất trí kết hợp dưới danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất theo tinh thần Hiến Chương ngày 04.1.1964 và đồng thanh suy cử Ôn lên ngôi vị Tăng Thống.

   Về danh hiệu, Ôn là vị Tăng Thống thứ hai của PGVN: đệ nhất Tăng Thống là Khuông Việt Đại Sư Ngô Chân Lưu do Đinh Tiên Hoàng Đế phong năm 971. Nhưng, bỏ qua vấn đề giai đoạn thời gian, xét về phương diện tôn vinh là nhiệm mệnh thì Ôn chính là vị Tăng Thống đầu tiên của PGVN. Bởi lý, đây là lần đầu tiên một Giáo Hội PGVN đúng nghĩa được hình thành, và Giáo Hội đó đã được quần chúng  thừa nhận mà không cần đến một trợ duyên nào của quyền lực quốc gia, và mặt khác, danh vị Tăng Thống của Ôn chẳng phải là một tước hiệu do chính quyền sắc phong nhưng chính là do đại diện của toàn thể Tăng, tín đồ PG Nam, Bắc Tông nhất trí ủy nhiệm.

   Ngôi vị đó của Ôn, có thể nói, chính là do công quả tu tập và tận tụy với đời, với đạo của Ôn.

   Lịch sử PGVN đã gắn liền với những thăng trầm của lịch sử VN. Và Pháp hiệu của Ôn đã tồn tại như một ánh sáng trong tiến trình lịch sử PGVN. Phong thái vô úy và tận tụy của Ôn đối với Đạo, với đời, cũng như Đạo lực và đức hạnh cao dày của Ôn giữa cõi trần lụy ngửa nghiêng đã thể hiện trọn vẹn truyền thống “Tòng Thánh nhập phàm, tòng phàm nhập Thánh” của Thiền Tôn vậy.



Source: BaoVeChanhPhap

Phòng Sự Kiện Lịch Sử - eTemple: HoPhap.Net
Quay lại In Bài Viết này Gởi cho người thân  
 CÁC BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ
 

Date News :

LỜI PHẬT DẠY
  • "Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo ".
  • "Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng, không rời hình ".
  • "Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi, " Không ôm hiềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi. "Với hận diệt hận thù, Ðời này không có được. Không hận diệt hận thù, Là định luật ngàn thu ".
  • "Ai sống quán bất tịnh, Khéo hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, có lòng tin, tinh cần, Ma không uy hiếp được, Như núi đá, trước gió"
  • "Ai rời bỏ uế trược, giới luật khéo nghiêm trì, tự chế, sống chơn thực, thật xứng áo cà sa."
BÀI VIẾT MỚI



Your IP Address:
54.81.82.181
Country Code:


Country Name:


City:


Region:


Latitude:


Longitude: