Trang Chính   Hình Ảnh   Âm Nhạc   Pháp Âm   Video   Trắc Nghiệm Phật Học 

   Hôm nay, ngày 28/5/2018
TÌM KIẾM  

Trong:

TRANG NHẤT > PHÒNG TRỤ TRÌ
Cỡ chữ:  Thu nhỏ Phóng to
Cập nhật ngày 12/05/2012 (GMT+7)

Hành Trình Về Xứ Phật -- Ấn Độ Thánh Địa Phật Giáo của Nguyễn Tăng Thích Tuệ Uy

Nhất tâm quay về nương tựa Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nhất tâm quay về nương tựa Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật



Nhật Ký: Hành Trình Về Xứ Phật -- Ấn Độ Thánh Địa Phật Giáo

Nguyễn Tăng Thích Tuệ Uy

Summer 1996 – PL 2540

Lời thưa của Tác giả: Nhân kỷ niệm 10 năm Cuộc Hành Trình Về Thánh Địa Xứ Phật, Tác giả đã được nhiều Pháp hữu và Phật tử mọi nơi ủng hộ khuyến khích cho đăng cuốn nhật ký Hành Trình Về Thánh Địa Xứ Phật & Thỉnh Đại Tạng Kinh để chia sẻ một kinh nghiệm tu tập quí giá và đặc thù hiếm có trong cuộc đời hành đạo của Tác giả. Sau một năm bản thảo nằm ỳ trong góc bàn, vì người đánh máy đã xong nhưng bị nhiều trở ngại chính tả trong lúc đọc các chữ viết tốc ký của Tác giả. Thêm vào đó Tác giả đa đoan Phật sự chưa có thuận duyên đọc lại và sửa lại bản thảo để đăng lên. Năm nay kỷ niệm Năm Thứ 11, thì bài mới được đăng lên từng phần, xin chân thành cáo lỗi cùng quý Pháp hữu đã chờ đợi. Hi vọng quý vị sẽ tìm thấy trong đây những thú vị thật đơn giản nhưng hiếm có nếu so với các chuyến đi về Xứ Phật của quý Chư Tăng khác. Một điểm đặc thù dễ thấy nhất đó là cuộc hành trình về xứ Phật của Tác giả không thỉnh kinh tại Thiên Trúc mà tìm đến “Đông Độ” Đài Loan để thỉnh Đại Tạng Kinh, không giống như Đường Tam Tạng xưa kia đi thỉnh kinh. Tất cả đều là tấm lòng chí thành của Tác giả, nếu có gì sơ suất không thuận ý quý Pháp lữ, thì cũng xin hỷ xả cho kẻ hèn Nguyễn Tăng này. Nhưng có một điều Tác giả chắc chắn nghĩ rằng, một trăm năm sau hay một ngàn năm sau ,nếu ai hữu duyên đọc được cuốn Nhật Ký nhỏ này, lúc đó vào khoảng năm 3007, thì đây là tài liệu quý giá giúp họ sẽ hiểu thêm biết thêm rằng, vào khoảng Phật Lịch 2540 tính từ sau lúc Thích Ca Mâu Ni thị hiện Niết Bàn, Phật giáo tại Ấn Độ và Nepal là như vậy, và một Thầy Tăng Việt Nam mà lại hoằng Pháp mãi tận xứ Mỹ là như vậy, con đường của Thầy Nguyễn Tăng này Thỉnh Kinh phải đi từ Việt Nam qua Indonesia, đến Hoa Kỳ, rồi vòng qua đến Xứ Thánh Địa điểm cuối cùng là như vậy… Ôi! Quả thật là một thú vị cho những học Tăng và Phật tử tương lai sau này muốn tìm hiểu về lịch sử của các Tiền Bối hành đạo và Phật Pháp thời gian năm 1996 ra sao, như vậy há không phải vô ích vậy. Tác giả nguyện cho mọi người có duyên được một lần về ngồi dưới cội Bồ Đề chóng thành Phật Quả.

Dù cho đi Bắc đi Tây …

Chưa đến Xứ Phật uổng công kiếp người

Hôm nay ngày Thứ Hai đầu tuần, Tháng Năm ngày 27 Năm 1996, sau khi qua xứ Mỹ được hai năm từ trại tỵ nạn Galang Indonesia, tôi quyết định làm một cuộc hành trình về Xứ Phật và Thỉnh Kinh. Dầu có đoàn người Phật tử 3 người hứa tháp tùng theo, nhưng họ đã bỏ cuộc ở giờ phút chót vì sợ nguy hiểm đi Ấn Độ vào thời gian này, giống như Ngài Tam Tạng Thỉnh Kinh không còn có Tề Thiên, Lão Trư, và Sa Tăng theo giúp vậy. Chí đã quyết, mặc dầu sư huynh kết nghĩa tôi một mực cương quyết can ngăn, với lý do là tôi chưa có Passport Hoa Kỳ (giống như không có chiếu chỉ của Vua ban vậy), Sư huynh sợ tôi sẽ bị trở ngại trong lúc xuất trình giấy tờ qua các cửa khẩu, nhưng tôi vẫn an tâm vì có một người “cư sĩ Hộ Pháp” đã cho tôi mượn Passport khi biết tôi hết lòng muốn qua chiêm bái xứ Phật. Họ đã có gan cho mượn, tại sao tôi lại không có gan đi? Trong lòng nghĩ có Passport vẫn hơn, nghĩ rằng sẽ sử dụng nó phòng khi bất trắc nếu gặp khó khăn không qua được cửa khẩu Ấn Độ, nhưng tôi chưa bao giờ sử dụng đến nó vì giấy tờ thẻ xanh của tôi tại Hoa Kỳ cũng xin visa vào Ấn Độ dể dàng không chi trở ngại. Có lẽ vì tôi quá lo xa và quyết phải mọi giá đến cho được Xứ Phật nên phải liều đến như vậy (sau này đi trở lại Hoa Kỳ, ai nghe cũng hết hồn thất kinh cho chuyến đi vô cùng mạo hiểm của tôi).

Giờ xuất hành vẫn giữ và không thay đổi, tôi được 2 người Phật tử thân thương ở tại thành phố Torrance, đưa tôi ra phi trường Quốc Tế Los Angeles vào lúc 1:30 p.m. sau vài mươi phút (15’) lái xe. Hai người Phật tử này họ giúp tôi ra phi trường bởi vì họ biết tôi đã bán chiếc xe hơi duy nhất của tôi rồi. Được khoảng 1500 đô la tuy không lớn nhưng đó là số ngân khoảng quý giá của tôi bước đầu làm hành trang cho mục đích hành trình về Xứ Phật, cộng thêm số tiền khoảng 1500 đô la do các đệ tử phát tâm chi phí cho việc Thỉnh Đại Tạng Kinh. Tôi từ giã họ lúc 2:30 p.m, sau khi chụp hình lưu niệm cùng với 2 vị Phật tử tại check in. Đi vào trong ngồi chờ thêm 30 phút, đúng 3:00 tôi vào trong máy bay sau đó máy bay cất cánh trễ 40 phút so với giờ qui định. Tôi rời thành phố Los Angeles vào lúc 3:40 PM một mình một bóng hành trình hướng về xứ Phật.

Sau 14 giờ bay, tôi đến Taipei 8:20 tối thay vì 7:45 p.m. Ngồi đợi 2 giờ sau đó đổi tiếp chuyến bay khác cùng hãng China Airline để đi Bangkok. Máy bay cất cánh vào lúc 10:20 p.m., ngày 5/28 giờ địa phương. Đặc biệt trên chuyến bay từ Los Angeles đến Taipei tôi đã gặp 2 người bạn tu sĩ Ni của Taipei họ ở California về thăm quê. Hai vị này rất tốt và trao đổi chuyện trò cùng với tôi nhiều, họ rất cảm mến khi nghe tôi nói về chuyến đi hành hương xứ Phật và việc thỉnh Kinh tại Đài Loan của tôi. Họ cho tôi địa chỉ số phone tại Đài Loan, trong thời gian 1 tháng họ ở đó để nếu tôi cần sự giúp đở, và họ cúng dường cho tôi $2100 tiền Taiwan để chi dùng (1 US = 28 tiền Taiwan). Hai vị, một tên Nikki và một tên Chris, Telephone in California 818-775-1231, in Taiwan 07-3410151. Hình như đây là bước đầu Đức Phật đã chú tâm hộ niệm cho tôi đã gặp được 2 vị đồng đạo này trên bước đường đi Thỉnh Kinh của tôi - Thật là một nhân duyên khi chúng tôi được ngồi bên cạnh, không sắp đặt trước, giữa hàng trăm hành khách trên chuyến máy bay 747 CHINA.

Tiếng máy bay đang bay vẫn nghe ù ù đều đền trên chuyến bay từ Taipei đi Bangkok. Tại phi trường bổng nhiên tôi có nhìn thấy được chiếc Vietnam Airline đậu bên cạnh khiến lòng tôi buồn buồn vì không biết khi nào mình sẽ ngồi trên chiếc máy bay Việt Nam để về thăm lại Thầy Tổ, thăm quê hương, nơi có bao người thân thương. Đặc biệt nhất là khi chiếc máy bay bay ngang qua nước VN, trong không phận Đà-Nẵng vào lúc 11:30 p.m. ngày 28, tôi nhìn qua cửa sổ máy bay thấy quê hương tôi bên dưới. Càng tưởng tượng, tôi càng nghĩ nhiều hơn nữa khi những hình ảnh gia đình tôi, bạn bè tôi đang sinh hoạt dưới tầm mắt tôi, và họ cũng có thể đang ngủ và không biết rằng giờ này tôi đang bay trên trời xanh đêm tối cao hơn 10 ngàn bộ với chiếc máy bay M11.

Khi bay gần trong vùng thủ đô Bangkok, từ cửa sổ nhìn xuống lúc 1:45 sáng ngày 29, tôi thấy xe cộ đèn phố rất đẹp và máy bay đáp xuống sau đó vài phút đúng giờ qui định, sau 2 giờ rưỡi bay đi Bangkok, lúc này giờ Bangkok địa phương là 12:50 a.m., Wednesday, May 29. Tôi về khách sạn “Dayroom” trong phi trường do 1 chiêu đãi viên đón để nghỉ qua đêm. Phòng 2 giường đầy đủ tiện nghi, rất sạch sẽ, rộng rãi đúng tiêu chuẩn quốc tế có cả máy điều hòa không khí rất mát mặc dù nhiệt độ bên ngoài lúc này hơn 70º F. Tắm rửa xong đâu đó vào lúc 2:30 sáng, tôi relax viết hồi ký, xem tivi có 1 đài của Thái văn nghệ số 9, lúc này nhìn đồng hồ tại Mỹ là Tuesday, May 28, 11:41 a.m. chắc mọi người vẫn đang hoạt động cũng như tôi đang thức quen giờ vậy.

Vào lúc 10:50 a.m. chiếc Thai Air Internation 311 Q cất cánh tại phi trường Bangkok, sau khi tôi từ giã anh Khánh một người VN gặp quen nhau tại phi trường, anh ta từ Đức về VN. Sau vài giờ bay, máy bay đáp xuống phi trường Katmandu vào lúc 12:24 p.m. giờ địa phương, ngày thứ 4, 5/29/96. Ngày xưa nước Ấn Độ gồm nhiều tiểu vương quốc nhỏ hợp thành rất rộng lớn bao trùm luôn cả nước Nepal, nhưng ngày nay nước Nepal là một nước nhỏ riêng biệt độc lập nằm về hướng Bắc của nước Ấn và hai nước cách nhau một biên giới rất đơn giản mà không ai tranh giành đất đai hoặc nhường đất cho ai. May mắn thay một trong Tứ Động Tâm quan trọng nằm trong vùng đất nước Nepal đó là Vườn Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini) nơi Đức Phật Thích Ca thị hiện giáng sanh. Chính vì vậy, mà Nguyễn Tăng đã chọn đi nước Nepal trước tiên hết để kính viếng chiêm bái Đức Phật trong mùa Phật Đản năm nay để rồi sau đó sẽ đi qua biên giới Ấn Độ tiếp tục chiêm bái 3 Động Tâm còn lại. Thủ đô của nước Nepal nằm trên một tọa độ cao và có núi non trùng điệp cao ngất bao quanh, nhìn từ máy bay thấy phố xá rất chật hẹp và nhỏ trông nghèo nàn. Sau khi xong thủ tục giấy tờ tôi không biết phải làm gì, đi đâu nên đến quầy tin tức về du lịch của sân bay hỏi thăm đường về Lumbini. Rất may mắn tôi gặp 1 người của một nhà trọ là Phật tử đang đón khách tại đó, hỏi giá cả xong biết giá từ 8 – 10 US tôi liền thuê xe về. Ngồi trên xe Taxi nệm cũ, ì ạch chạy mười phút với đường đá nhỏ trong thành phố đầy bụi mù và khói xe, nhìn xem nơi của vua nước Nepal ở, khi xe chạy qua tôi thấy nước này nghèo thật, còn con người thì cũng đàng hoàng, họ ăn mặc nửa theo Hồi giáo, nửa Ấn giáo.

Khi đến một nhà trọ, tôi trả tiền 3 US cho Taxi khoảng hơn 300 Rupi, nhà trọ này mới xây cao năm tầng nằm trong 1 hẽm nhà đều xây gạch đỏ và không tô xi măng ở ngoài. Hết phòng chiếc 8 US, tôi chọn phòng đôi ở lầu 3 có hai mặt cửa sổ số phòng 302 để trọ, trong cũng có cầu tiêu buồng tắm chung, nói chung rộng rãi sạch sẽ có nước điện đàng hoàng và quạt trần, không máy lạnh. Tôi đi ra chợ, chợ ở đây là các nhà ở dọc 2 bên hẽm của con đường và chung quanh họ mở quán xá, người đi xe chạy thật chật chội và đầy bụi mù. Dân ở đây da cũng không đen lắm, giống như người Việt, họ sống ở thủ đô nhưng giống như ở quê Việt Nam không có ăn diện v.v… như ở thành phố. Tôi đắp y quấn như các sư Phật giáo nguyên thủy để cho phù hợp cách ăn mặc nơi đây, thỉnh thoảng họ gặp (là người Phật tử) thì chấp tay xá tôi. Tôi không thấy một vị Tăng nào của Nepal ở ngoài đường phố mà chỉ thấy các chư Tăng người Tây Tạng, Tăng Tây Tạng ở vùng này chắc cũng nhiều. Tôi chưa có dịp để viếng thăm Chùa vì hơi xa.

Đêm nay, gần tối trời đổ cơn giông tố thật mạnh, gió làm ngã các cây, sấm sét dữ tợn làm điện cúp luôn cho tới chiều hôm sau. Xứ này ít thấy ruồi, đêm có vài con muỗi quấy phá tôi ngủ chẳng yên. Trời mưa nhìn ra cửa sổ, tôi thấy nhiều người ngoại quốc các nước, ở bên trong nơi các nhà chung quanh. Nhà trọ này cũng có nhiều người ngoại quốc, họ đến đây để du lịch chủ yếu là tìm tòi thám hiểm, leo núi, đi bộ ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Họ hầu hết là thường mang ba-lô cao lớn gọn gàn (thường gọi là Tây-ba-lô) để đầy dụng cụ hoặc thức ăn trong đó. Tôi thấy như vậy cũng hay nên bắt chước cũng mua một cái 10 đô la để dồn tất cả đồ vào làm một cái để hành cước cho gọn và tiện dụng ở xứ này.

Sáng hôm nay 30, tôi phải đi toà Đại Sứ Ấn Độ để xin Visa, thay vì đi Lumbini vì dự tính ở Lumbini đi thẳng qua Ấn Độ luôn. Thủ tục điền đơn cũng lượm thượm, họ làm việc không đàng hoàng. Nhiều người ngoại quốc xếp hàng trông họ cũng bụi như người dân địa phương. Tòa Đại Sứ mở cửa từ 9:30 – 12:00 trưa, tôi hoàn tất và đóng 300 Rupi và họ hẹn chờ sau 7 ngày cứu xét, và trở lại sẽ thông báo kết quả. Anh chủ tên Gittam của nhà trọ này là Phật tử rất tốt, quán trọ tên là Mt. Annapurna Guest House ở Thamel, Jyatha, Kathmandu, Nepal. Anh chở tôi đi đến Tòa Đại Sứ quán và chờ đưa về, đến trưa lại làm cơm cúng dường cho tôi 1 bữa cơm chay theo kiểu Nepal, tôi ăn thật ngon và thầm cầu nguyện chúc phước lành đến anh chủ cùng với 2 người nam chung làm việc ở đây, họ rất tốt, đối xử thật nhiệt tình.

Đệ Nhất Động Tâm: Vườn Lâm Tỳ Ni – Nơi Phật Đản Sinh

Tôi nhờ người thí chủ này gọi điện lấy vé xe bus đêm sẽ khởi hành vào lúc 7:00 p.m., và sẽ đến Bhairhawa vào 6 giờ sáng mai, ngày 31 tháng 5 tức ngày rằm tháng 4 Âm lịch, từ đây tôi sẽ đón xe đi Lumbini thêm hơn giờ xe nữa. Người Nepal họ kể cho tôi nghe là theo lịch của Nepal New Year hàng năm, khoảng vào đầu tháng 4 Tây lịch thì họ sẽ biết tất cả mọi ngày lễ trong năm, thì họ nói ngày mừng lễ Phật Đản Sinh ở đây đã qua, đúng nhằm tháng này ngày 3 vừa qua rất lớn có vua nước Nepal về dự, tôi thật ngạc nhiên và thú vị ??? …nhưng dù sao tôi cũng nói rằng Phật vẫn sinh vào ngày rằm trăng tròn tức ngày mai 31, còn ngày 3 vừa qua cũng có trăng tròn mà là 16 tháng 3 Âm lịch, họ đi trước mình 1 tháng, chắc có lẽ họ đúng chăng? Đây là 1 vấn đề tôi về sẽ nghiên cứu lại (hay năm nay nhuận?).

Chiều hôm nay, ngày 30 tháng 5, lúc 6 giờ chiều tôi được người chủ nhà khách trọ đưa ra bến xe để đi chuyến xe bus đêm (night bus), sau khi tôi tìm hiểu ngoài chuyến đi sáng 7 giờ còn có chuyến đi 7 giờ tối, thật là may mắn như vậy là tôi sẽ có cơ hội đến vườn Lâm Tỳ Ni vào lúc trưa mai rằm tháng 4 Âm lịch. Xe ca giống loại ngắn ở VN lăn bánh lúc 7:00 p.m. chạy rất chậm vì đường nhỏ phải nhường khi gặp nhau, mà xe ban đêm chạy quá nhiều, có những lúc trống xe chạy cũng khá nhanh đa phần xuống đèo của rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Đường xe quằn quẹo rất nguy hiểm mà tài xế ở đây chạy cũng nhanh nếu thắng không tốt thì coi như xong vì đường nhỏ sát vực thẳm, xe chạy dằn, nhồi tưng.


Bhairhawa 6:00 AM, ngày 31 tháng 5 tức ngày rằm tháng 4 Âm lịch, đón xe đi Lumbini từ nơi đây đi thêm hơn giờ xe nữa

Đến 6:00 a.m. ngày 31, tức rằm tháng 4 Phật lịch 2540, thì đến 1 thị xã nhỏ tên Bhairhawa, từ đoạn xuống chân đèo cho đến thị xã này là đồng bằng, chạy khoảng hơn giờ xe thì phố xá, nhà cửa bắt đầu hiện ra. Nhà cửa ở đây nhìn cũng khang trang, cây vườn có vẻ mát mẻ xinh đẹp hơn ở Kathmandu. Thị xã này có đủ khách sạn và tiện nghi cho du lịch. Xe bỏ tôi xuống 1 ngã ba của thị xã này có tấm bảng đề “Lumbini 22km”, từ góc này có trạm xe bus có nhiều chuyến trong ngày, khỏi cần mua vé chỉ trả 10 Rupi cho 1 người thật rẽ. Chạy dọc đường tôi nhìn thấy dân chúng họ làm tượng Phật thờ tại các ngã 3 đường. Tượng lớn bằng người thường và khoát quanh Ngài một mãnh vải tròn màu vàng, các xe thì có tượng Phật 2 bên và thường là một bàn thờ Phật trang hoàng lớn trên đầu trần của xe nơi tài xế, chứng tỏ rằng Đạo Phật còn ảnh hưởng mạnh đến đời sống sinh hoạt của dân chúng.

Sau hơn 1 giờ đồng hồ thì xe đến Vườn Lâm Tỳ Ni. Tôi đi bộ vào trung tâm nơi có quán nhỏ và hỏi đường về chùa Việt Nam Phật Quốc Tự. Có 1 vị khách địa phương tự giới thiệu ông ta là một trong những nhân vật trong ban điều hành tại khu này và nói rằng rất thán phục Dr. Lâm, là Thầy Huyền Diệu, là một trong những người đầu tiên sáng lập chùa Việt Nam (1 chùa ngoại quốc) đầu tiên tại mảnh đất thánh địa này, tiếp theo sau là các nước như Đại Hàn, Nhựt Bản, Miến đang xây cất và sắp tới là Thái, Tàu. Đường đá dẫn vào chùa khoảng 1km. Tôi đến chùa vào lúc Thầy Huyền Diệu đi Phật sự tại Kathmandu. Nhưng được 1 người Phật Tử nam Pháp danh Chánh Quán, đương phát tâm công quả tại đây 2 tháng từ California sang, đón tiếp tôi.


Tôi rất thán phục tài năng đức độ của Thầy với một tác phẩm đang làm quá đồ sộ, sau này có thể đón khách hành hương VN hàng năm. Phòng ốc khang trang đầy đủ tiện nghi vì nơi đây có đầy đủ nước và điện. Khí hậu hôm nay rất tốt và mát mẻ, ông khách dẫn đường nói rằng tôi rất may mắn vì hôm qua trời nóng đến 39.5ºC. Thật vậy mặt trời ở trong mây và có nhiều gió làm tôi thấy dễ chịu trong mùa hè ở xứ này. Tắm rữa xong tôi đắp y đi bộ ra đảnh lễ nơi Đản Sinh của Đức Phật, nơi có trụ đá mà vua ASOKO đã đặt, tôi thành tâm cầu nguyện đảnh lễ và cảm niệm hồng ân Tam Bảo đã gia hộ cho tôi đặt bước chân mình tại vườn Lumbini sau hơn 6 năm từ lúc phát nguyện nơi hình núi Yên Tử (xứ Tổ) mùa Xuân năm 90. Trải qua nhiều gian nan thử thách tưởng chừng đã chết đi sống lại, nhiều ma vương cản trở mà ngày hôm nay giấc mơ đã thành sự thật.

Tại nơi Thánh Địa Vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Thích Ca thị hiện Đản Sinh, tôi tha thiết cầu nguyện cho quê hương Đạo Pháp Dân Tộc thoát khỏi Pháp nạn, Quốc nạn các chư Tăng Ni đồng bào Phật tử tại các trại tỵ nạn sớm có ngày tự do như nguyện. Nguyện cho tất cả các Phật tử đã hoan hỷ phát tâm góp phần công đức hoặc công hoặc của để trợ duyên cho tôi trong chuyến đi về Xứ Phật và thỉnh Kinh, công đức này của họ sẽ được lưu xuất mãi cho đến tận vị lai khiến mọi sở nguyện của họ dần dần chóng viên thành. Gia đình quyến thuộc của tôi được ấm no hạnh phúc và thấm nhuận giáo lý Phật Đà. Riêng tôi sở nguyện học hành được thành đạt sau này hoằng dương Phật Pháp tại xứ người và trở về giúp quê hương rạng danh sông núi, và sau cùng tôi cũng nguyện đời sau tái sinh về cõi Phật A-Di-Đà và trở lại cõi này độ sanh.

Tôi về dùng cơm và nghỉ trưa đến chiều lại ra chụp hình quay phim làm lưu niệm sau này. Sau khi dùng nhẹ bữa tối, tôi cùng Phật tử đảnh lễ Phật tại chánh điện tạm của chùa, sau đó ngồi giảng pháp về công hạnh tu hành của Đức Phật. Đêm nay thật mát chúng tôi ngồi kể chuyện cho đến khuya về nguyên nhân và kết quả của sự phát tâm về Xứ Phật của tôi cho Phật tử đương nghe.

Đêm khuya, gần rạng sáng ở vùng này nhiều chó sói hoang tru nghe rất hoang dã và ghê sợ nếu tinh thần người nghe không định tỉnh chánh niệm. Tôi dậy và công phu lúc 5:30 a.m., ngày 1 tháng 6. Sau đó tôi đi ra lễ Phật và cầu nguyện tại trụ đá của Vua A Dục. Khí hậu hôm nay có phần nóng hơn hôm qua, Phật tử Chương chở tôi bằng xe Honda ra chợ, chợ mỗi tuần nhóm 1 lần vào thứ 7. Chợ rất sơ sài không có rau gì cả chỉ có các loại củ hoặc mít chín (jackfruit), không có trái cây, may thay có vài nãi chuối chúng tôi mua về 2 trái bầu, mít non thì không. Trời nóng tôi mua 1 chai nước Coke uống vào mồ hôi ra như tắm.

Chiều này thì Thầy Huyền Diệu về, chúng tôi nói chuyện tâm sự rất nhiều về Đạo Pháp Dân Tộc, nhiều vấn đề bổ ích cho việc tu học của tôi sau này. Nhất là Thầy kể về sự mầu nhiệm của Đất Phật, trải qua những công trình của Thầy làm, tôi rất cảm phục vì với sức người mà xây cất những công trình trong một điều kiện thiếu thốn như vậy. Nhìn các anh em người Ấn và Nepal gồm 20 thợ chính từ Ấn sang và 30 thợ phụ tại địa phương đang làm dưới nắng cháy, họ đen như mực. Tôi thầm cầu nguyện cho họ nhờ công đức này đời sau sẽ sung sướng hơn, gặp Phật nghe pháp giải thoát luân hồi.

Gần tối trời nổi giông mưa lớn nước tuôn xuống nhiều, sau đó thì tạnh, chúng tôi đi nghỉ sau khi dùng tối nhẹ.

Sáng nay, tháng 6 ngày 2, sau khi công phu sáng tôi lại ra ngoài vườn Lumbini lễ Phật và cầu nguyện như thường lệ, đặc biệt là cầu nguyện cho các người Phật tử thân quí của tôi đó là Đức Thanh và Đức Hạnh, cầu mong đệ tử bình an chóng qua được đất Mỹ để tiếp tục hộ trì cho tôi tu học thành đạt và mọi việc cát tường như ý, cầu nguyện cho Phật tử Đức Thanh tăng long phước thọ, tiêu tai tật bịnh, và cùng toàn thể gia đình quyến thuộc của tôi thân tâm an lạc, sở nguyện như tâm.

Trời hôm nay khí hậu thật mát mẻ nhờ hôm qua trời đổ mưa, không thôi gió hôm nay nóng khô người. Tôi lễ Phật và làm quen 2 người Phật tử ngoại quốc ở Austria, Europe họ cũng là người đặc biệt mà tôi học được vài điều ở nơi họ, họ đã từng ở Bồ Đề Đạo Tràng 4 tháng, nơi Đại Học Đông Phương của cố Hòa Thượng Thiên Ân tại Hoa Kỳ hơn 1 năm, họ đã đi nhiều nơi chiêm bái và tu học. Thật là thán phục, vì họ đã tốt nghiệp học vị Doctor và họ đã dành nhiều thời gian trong cuộc đời của họ đi làm thiện nguyện tại trại Hongkong và giúp rất nhiều chư Tăng Ni. Như vậy, 2 ngày qua đi lễ tôi đều quen thêm người đồng đạo gặp những thiện hữu tri thức có trái tim và mật hạnh của những vị Bồ Tát. Lần đầu hôm qua, tôi đi lễ Thánh Địa gặp quen người viên chức làm trong Tòa Đại Sứ hứa giúp tôi đi Ấn nếu tôi gặp khó khăn xin Visa. Tôi đi đến đâu từ lúc lên máy bay cho đến bây giờ luôn luôn được giúp đỡ thuận duyên nhờ sự âm thầm che chở hộ trì của chư Phật Bồ Tát hộ niệm.

Ngày 3 tháng 6, như thường lệ tôi ra nơi Đức Phật Đản Sanh lễ bái và cầu nguyện, chiều đi thăm “Thư Viện Phật Giáo Quốc Tế” tại Lumbini cơ sở rất vĩ đại có tầm vóc quốc tế, đi bộ từ chùa đến đó khoảng gần 1km, kiến trúc theo hình ống.

Ngày 4 tháng 6, tôi cũng đi lễ Phật và thăm viếng các chùa Nepal, Tibetian, chùa Miến Điện, lần trước thì tôi có đi thăm các chùa chung quanh như Đại Hàn, Nhựt Bản, và chùa Linh Sơn Việt Nam (đang khởi công xây nền móng Chùa).

Hôm nay Wedesday, ngày 5 tháng 6 tôi đi lễ tạ ơn Phật sớm, ghé quán nhỏ gần khu chùa Nepal, và mua trước một vé xe đò để đi về thủ đô nước Nepal lo việc xin chiếu khán qua biên giới Ấn Độ tiếp tục cuộc hành trình vì lúc tại Hoa Kỳ tôi chưa xin được Visa vào Ấn Độ với hi vọng khi qua được xứ Nepal thì xin Visa nhập cảnh India được. Vé xe đò 1-A được ngồi bên trái của xe và sát cửa sổ là nơi lý tưởng nhất, vừa có chỗ đằng trước sát nơi lên xuống để đồ rộng rãi, vừa mát và vừa ngắm cảnh núi rừng lúc về, giá vé chỉ có 140 Rupi. Trờ về chùa Việt nam, Tuệ Uy tôi nói chuyện chụp hình lưu niệm với Thầy Huyền Diệu ăn bữa cơm trưa chia tay, và phát kẹo cho 40-50 công nhân đang xây chùa, sau đó khoảng 4:30 anh Chánh Quán đưa tôi ra bến xe bằng xe Honda. Xe chạy nghỉ nửa đêm tới 8:30 thì đến thủ đô Kathmandu. Tôi đi 60 Rupi Taxi đến Embassy Ấn Độ tại Kathmandu để xem có tên trong danh sách không được cấp chiếu khán không.

Lúc 9:30 họ bắt đầu làm việc, thì thật thất vọng vì tên tôi không có. Tôi liền hỏi họ và họ hỏi đủ điều về tôi và giới thiệu cho tôi qua diện Visa Tourist. Tôi tưởng tôi sẽ không có cơ hội qua được xứ Ấn Độ giai đoạn chót này, nhưng cuối cùng họ thâu tiền của tôi 1500 Rubi cho thủ tục hành chánh này, thật là tốn nhiều tiền thay vì nếu tôi có Quốc tịch Mỹ chỉ có 300 Rupi. Nhưng tôi cũng mừng vì họ hẹn chiều 4:30 p.m. trở lại lấy Visa.

Trong thời gian chờ đợi nôn nao và hồi hộp cho đến 4:30, tôi cất bước lang thang khắp nơi và sẵn tìm hãng Indian Airline mua vé sớm để có ngày đi. Nhờ vậy mà tôi biết thêm nhiều con đường quanh thành phố, những con đường ở đây ngăn ngắn đi bộ cũng được đở tốn Taxi 40 Rupi cho mỗi lần. Đói bụng tôi mua bánh mì ở Bakery vô khách sạn ăn cho đở bụi ngoài đường và mát, uống ly trà và chai Coke họ lấy 68 Rupi và cho 6 Rupi tip nữa. Kinh nghiệm mua thức ăn về nhà hay ăn dọc đường coi bộ tốt hơn. Ăn xong đợi tới 2:00 hãng bán vé máy bay mở cửa làm việc lại, thì tôi chỉ book được vé cho ba ngày tới tức ngày 9 tháng 6 mới có chuyến bay đi sang Ấn.

Đến chiều 4:30 tôi ghé Tòa Đại Sứ thì mừng quá Phật độ cho, họ chấp nhận cấp Visa cho tôi có hạn định 15 ngày (chứ không phải được 12, 15 năm của Ngài Đường Tam Tạng khi xưa lưu trú tại xứ Ấn), nhưng mà họ bắt đầu tính ngày hôm nay như vậy tôi phải mất đi 3 ngày chờ chuyến bay chỉ còn 12 ngày ở Ấn mà thôi. Tưởng cái vé 71 đô la (người ngoại quốc họ bắt trả tiền đô) một chiều đi đời. Thôi kệ cũng được miễn tới Ấn được rồi, mình đi nhanh đến nhanh và rời nhanh, vì chỉ còn con đường rút ngắn thời gian nhất qua Ấn Độ là "cân đẩu vân" đường tàu bay nhanh hơn là đi xe đò qua biên giới Ấn vì sẽ mất nhiều thời gian hơn khi đến các nơi Thánh Tích. Tôi trở về khách sạn (Guest House) với giá 150 Rupi hạng rẽ nhất để nghỉ lưng qua đêm, thay vì vào hotel thật ngon lành thì giá thấp nhứt 7 U.S thay vì nhà trọ chỉ 3 U.S đã cộng 10% thuế. Nhưng nhà trọ Mustang này muỗi rất nhiều bất tiện nên phải mua thêm 4 Rubi nhang xông muỗi để đốt cho 2 đêm.

Hôm nay, ngày 7 tháng 6, qua một đêm ở nhà trọ, tôi dậy sớm để đi đến chùa của Nepal tên Suayambhunath. Đi bộ khoảng 45 phút (3km) từ nhà trọ đến chùa. Mỗi sáng sớm chùa có nhiều Phật tử Nepal về lễ Phật. Từ dưới nhìn lên khoảng 337 tầng cấp, có 2 lối đi, có tay vịn cho mỗi lối, chia đôi ra người lên kẻ xuống thật đông, chùa này còn có tên khác là “Chùa Khỉ” vì rất nhiều khỉ chạy lung tung với người, và rất nhiều đàn chim bồ câu bay rợp trời và chúng phóng uế làm mất trang nghiêm trên nóc chùa, lại có nhiều chó homeless. Chư tăng và chú tiểu đều là người Tibethan. Trước kia chùa này do Tăng Nepalis ở và có từ hơn 2500 trước, sau thời gian qua, nhiều chư tăng Tibetan sang và đổi trụ trì người Tibet, họ thay đổi cách thờ bên trong cũng như thờ vị Tăng đầu tiên Liên Hoa mang Phật giáo Ấn sang Tibet truyền đạo, và các vị Lạt Ma quá khứ cũng như Đức Lạt Ma hiện tại.

Khi tôi tiếp chuyện với 1 vị tăng trong chùa thì nói rằng có 75 vị thường trụ. Ngoài cỗng đi vào bên phải có 1 nhà dùng cho một nhóm cư sĩ tụ họp tán tụng thời Kinh buổi sáng với đầy đủ pháp khí nhạc cụ tôn giáo theo truyền thống Tibet phát ra những âm điệu nghe rất hay và thú vị. Sáng nay lại có nhiều lính bộ binh, và lính mặc đồ thủy quân lục chiến đến chùa lễ bái, họ đi vòng quanh chùa để dùng tay lăng hết những ống đồng tròn cầu nguyện có trục xoay gắn quanh chùa, trên đó có khắc bài chú "Án Ma Ni Bát Di Hồng" để hàm ý họ cầu điều may mắn. Phật tử ở đây có phong tục hay cúng hoa và rãi hoa chớ không có trái cây hay thức ăn gì cả, chắc tại xứ sở nghèo nàn và khô khan vùng này tôi không thấy có trái cây gì cả.

Sau khi quay film và chụp hình tôi xuống núi trở về quán trọ lúc 12:15 cũng vừa đói, và cũng mua được một nãi chuối và 6 trái quít èo ọt để ăn cho mát bao tử, với ổ bánh mì. À! trước khi về tôi có ghé General Post Office để gởi thư và Post Card về Los Angeles, Hoa Kỳ cho người Dì ở thành phố Gardena , Thầy Phước Sung (Chùa Pháp Hoa, Alhambra), Thầy Giác Minh (Quán Âm Tịnh Xá, Baldwin Park), về Việt Nam cho một Sư huynh ở Ngũ Hành Sơn, Non Nước, và về Saigon cho Phật tử Đức Hạnh. Nói chung phố xá nơi đây muốn tiết kiệm tiền thì đi bộ cũng gần. Nhưng vì trời hôm nay không nóng mà lúc nào bụi cũng đầy, vì phố quá dơ, nói cho đủ là thủ đô of Nepal không đẹp nhà cửa đường xá lộn xộn không hàng lối và đầy bụi dơ. Nhưng lại có rất nhiều khách Tây Phương về đây mới thật buồn cười, chắc vì nơi đây có những cảnh mà nơi khác không có như dãy Hy Mã Lạp Sơn. Họ ở đây 3 – 6 tháng là thường sau đó họ đi Ấn Độ cũng ở 3 – 6 tháng, rồi trở lại Nepal, làm như vậy họ mới ở được lâu tại hai nước này, nhân vì lúc xếp hàng tôi xin Visa mới biết thêm chuyện này.

Đệ Nhị Động Tâm: Vườn Lộc Uyển – Nơi Phật Chuyển Bánh Xe Pháp Lần Đầu Tiên

          Sáng hôm nay, ngày 8 tháng 6 năm 1996 tôi dậy sớm và chuẩn bị rời nhà trọ vì trời mát hơn và ít bụi hơn. Tôi đi bộ đến bến xe bus, dự trù từ đây lên phi trường chỉ tốn 3 Rupi rất rẽ không như lần tôi mới đến bước lên Taxi mất 4 U.S = hơn 200 Rupi, kỳ này kinh nghiệm đi bộ đến City bus nên rẽ nhiều, để dành tiền chi phí cho chuyến đi này, mặc dù có mang theo chiếc đồng hồ đem tay phòng khi nhẹ hồ bao. Tôi định nếu không xin đi sớm được chuyến bay đi Varanasi, ngày hôm nay đi về cũng sẽ ngủ lại mai đi. Rồi đến phi trường vào khoảng 8:00 sáng rất đông người và chờ cho tới 11:15 họ mới đồng ý cho tôi đi vì chuyến bay thường còn dư nhiều chỗ do hôm qua cũng có người muốn đi trước.

Hôm nay tôi đi thì chỗ tôi ngày mai sẽ có người trong waiting list nếu họ đến phi trường chờ thì cuối cùng cũng đi mà thôi. Đây là kinh nghiệm muốn đi sớm vào trong qua phần soát Visa lúc vào, cũng như lần này ra khỏi Kathmandu họ đều làm khó và giải quyết sau cùng, sau khi cho đi thì họ làm mất vé của tôi làm báo hại tôi phải phân trần với họ vì họ đòi ăn tiền thêm 300 Rupi. Thật ra sau đó xuống lại tầng soát vé lấy lại không tốn đồng nào từ nơi đó như họ nói với tôi. Đằng này người xếp của họ muốn đòi riêng tiền tôi 200 Rupi (hối lộ) tôi cười và chỉ cho họ cây viết made in America rất đẹp cho ông ta và ổng cười vui lên và tôi vội đi ra sân máy bay bước lên máy bay đã đợi sẵn.

Máy bay cất cánh lúc 12:30 và đáp xuống sau nửa tiếng bay thật gần và nhanh. Làm thủ tục nhập cảnh lúc nào tôi cũng bị nhân viên hải quan làm cản trở và trể, tôi lại là người ra chót hết khoảng hơn 2:00 p.m., và các chiếc taxi bu lại như kiến đòi từ 250 Rupi xuống còn 100 Rupi, tôi một mực từ chối vì kinh nghiệm vào Kathmandu, tôi nhất định tìm cho ra bến xe bus. Từ phi trường Varanasi ra, tôi quẹo phải đi theo con đường dẫn tới xe bus khoảng 40 Rupi dưới trời nóng bức hơn 40ºC và trên đường gặp một gã đàn ông theo làm quen, gã liền chỉ cách tôi đi xe bus và ngoài ra còn muốn bao tiền, tôi có linh tính người này không thiện tâm nên từ chối, nhưng nhờ gã mà tôi biết giá và chỉ trả 10 Rupi Ấn.

Xe bus loại Zeep chạy hơn 20km thả 2 chúng tôi, tôi và "gã", xuống ngả ba và y nói rằng đây là một nơi nhỏ tên Kachahari và từ đây đi bộ khoảng 100m tới ngả ba nữa sẽ đón thêm 1 chặng xe nữa đi về Downtown khoảng 6km, trước khi đi về City gã mời tôi vào 1 quán nhỏ uống nước, tôi từ chối, gã đòi bao và nói tôi là khách quý. Tôi nói thầm với tôi, tôi chưa chắc uống vì đến xứ lạ ai mà dám uống nước người xứ của họ, gã này sẽ bỏ thuốc ngủ vào như bao khách ngoại quốc thường mắc bẫy ở xứ này hoặc lỡ bị bịnh thổ tả thì nguy, đâu đâu cũng có dòng họ ma vương quấy phá, chỉ có một mình độc hành tôi càng phải bảo trọng hơn.

Tôi vờ đi và tránh các gã xấu muốn gạt người du khách, ra đón xe bus đi về thành phố Varanasi, gã này biết tôi cao tay ấn không dễ lừa được, y lại còn mời tôi về nhà của y nghỉ nữa. Tôi nghĩ để dễ cho y ăn thịt nuốt sống tôi luôn, mới gặp lần đầu khác dân tộc ai mà tốt quá, nhất là xứ nghèo dễ sinh đạo tặc, mặc dù mời hay cho năn nỉ tôi cũng không, tôi luôn nghĩ trong tâm đi đến đâu thì gặp chùa thì lễ Phật và xin trú ngụ qua đêm, còn không bất đắc dĩ mới vào khách sạn mượn chỗ nghỉ lưng qua đêm là an toàn để tiếp tục cuộc hành trình về xứ Phật.

          Thầy Huyền Diệu vị trụ trì chùa Việt Nam Phật Quốc Tự đã dặn tôi rất cẩn thận trước khi tạm biệt Thầy đi qua Ấn Độ. Thầy nói, Phật đâu là có ma đó. Tôi cũng gan đi một mình đến đâu ai hỏi họ biết ra cũng rất ngạc nhiên tại sao ông Tăng Việt Nam này dốc lòng và quyết chí như vậy. Ngày Đường Huyền Trang đi thỉnh kinh ngày xưa cũng vậy leo đèo lội suối, trải qua biết bao lần tai nạn hiểm nghèo nhưng không bao giờ biết thối chí. Sư đã có lời thề: Thà một bước chết ở trời Tây, Còn hơn sống lui bước về Ðông Ðộ.

Xe bus thả tôi xuống mà tôi chẳng thấy thành phố đâu cả, bèn đi bộ tiếp khi thấy ở đầu xa kia vài nhà cao tầng, tôi đoán chắc nơi đó có nhiều cơ hội để trú ngụ. Đi bộ mệt và tôi thấy tim tôi hơi nhói biết là dấu hiệu không tốt, may liền tới một hotel tên ASHOK, vào trong thấy khoẻ liền vì có máy lạnh mát và không bụi như ngoài đường. Khi đó nhìn sang bên đường lại thấy một cái chùa để Buddhist Temple. Tôi mừng quá vội rời đến đó để hỏi thăm.

Vào ngang chánh điện thấy nhiều Phật tử nằm ngổn ngang nào con nhỏ bế bồng mất trang nghiêm. Tôi vào gặp bái kiến thầy (Sư) trụ trì và vị trụ trì chùa này nhìn tôi với cặp mắt nghi ngờ, sau khi tâm sự đôi bên trao đổi card thì biết tôi ở U.S sang nên Sư tỏ ra dễ chịu (vì lần đầu tới đây, tôi nói là Việt Nam để họ khỏi để ý), Tỳ Kheo này cũng đã có tuổi bậc Thượng Tọa, mặt mày sáng và da cũng trắng người Miến Điện, tên là U. Shobhana (B.A) có bằng cữ nhân, trong Business card đề vậy. Chùa này cũng nhỏ đang sửa nền phòng, tôi liền gợi ý và thành tâm cúng dường 165 Rupi (5 U.S), Thầy hoan hỉ nhận, chùa này của Miến Điện, tại khu này chỉ có 2 chùa theo lời Sư kể. Tôi từ giả muốn đi về Vườn Lộc Uyển liền, Sư đưa ra tới cổng và cho theo 2 người sa di đệ tử theo dẫn đường, ngồi trên xe lam nhỏ ba thầy trò thẳng đường dài khoảng 10km (40 Rubi) thì tới 1 chùa bạn của Sư này, tôi vào nghỉ, sư trụ trì đang bận, tôi tắm rửa và xin đi ra Vườn Lộc Uyển lúc đó trời đã chiều mát.

Cách chùa 50m, đi 3 phút là tới nơi trụ đá của Vua A Dục trong 1 khu đất rộng và đầy cây mát và bãi cỏ xanh. Trụ đá dưới nơi khắc chữ đã bị gãy, và 4 trụ đá cũng bị gãy chôn 4 cạnh góc vuông quanh trụ chính và trên có mái che chung quanh có hàng rào cũng như bên trụ đá Lumbini, có lính canh có cả súng dài, bên lính ở Nepal thì tay không thường không có súng chỉ ở trong cung vua.

Sau khi đi nhiễu và lạy nơi trụ đá xong tôi gặp 1 người bản xứ dẫn tôi đi giới thiệu quanh Chùa. Sát phía sau trụ đá có bậc tầng cấp dẫn đến 1 cái nền thật lớn còn dấu tích tàn phá của Đạo Hồi, Chùa này lúc còn Phật rất lớn cao tới 80 feet, đi quanh bên phía phải bên hông chùa trong đó có đánh dấu bục gạch xây nơi Đức Phật khi xưa ngồi giảng pháp, chuyển bánh xe Pháp lần đầu tiên và độ cho 5 vị tỳ kheo đầu tiên.

Nơi Vườn Lộc-Uyển có miếng đất nhỏ vuông vức và hơi sâu xuống so với nền, chỗ cửa còn cái khung bằng đá chạm khắc. Nhìn về bên phải là 1 cái chân tháp rất lớn nay còn chỉ là nền gạch – cách đó không xa có 1 cái tháp nữa về hướng phía sau chùa, cái tháp này đường kính khoảng gần 50m, phần dưới lên đến khoảng hơn 10m thì còn nguyên và các điêu khắc khi Vua A Dục đến đây cho xây dựng, phần trên thì mới tạo sửa lại mất 5 năm hoàn thành tu sửa, nhìn tháp này và tháp kia thì biết cái đó bị sức tàn phá khủng khiếp của thời gian mới mất đi chỉ còn cái nền.

Bên trong 2 tháp này nghe đâu có hình con sư tử 3 đầu như trong tờ giấy tiền 5 Rupi còn in, và Đạo Hồi họ dời đi này nằm tại thư viện của nơi thánh địa này. Đằng sau ngôi chùa tiếp đến là còn rất nhiều vết tích những bục gạch hình tròn nghe đâu là hơn 2000 bục, và có đến 2000 vị tỳ kheo lưu trú ở đây, vì mỗi một bục gạch là một chỗ ngồi thiền của đệ tử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bục tròn này giống như xung quanh vùng Lumbini.

Tôi vào thăm chùa Miến tiếp đó, khu này rất rộng và có kiến thiết quy củ, có rất nhiều du khách trong giờ chiều tối này. Tôi dự định đi lễ và thăm biết qua 1 vòng sau đó về nghỉ. Ngày mai sẽ dành thì giờ nhiều chiêm bái lâu hơn. Tóm lại cảnh nơi đây có vẻ còn sinh khí trang nghiêm hơn rất nhiều so với bên Vườn Lumbini bị lãng quên hoàn toàn. Tôi đi về chùa lúc nghe từ xa tiếng tụng kinh của chùa lớn nhất cao nhất và đẹp nhất tại đây, vọng về nghe thanh thoát dễ chịu khi trời hoàng hôn.

Tối đến ngoài trời có gió mát, nhưng trong phòng của tôi ở thì nóng bức mặc dầu có quạt suốt đêm nhưng vì đóng cửa chính. Cửa sổ ở mặt sau thì không có gió vì mặt trước cửa phòng chính không có cái cửa sổ nào hết, đây là cách thiết bố vụng về, vì một phòng ít nhất phải có 2 cái cửa sổ mới có gió lưu thông và mới mát được. Tôi như cái bánh mì bị hầm và ngủ không được. Đêm đêm ra vào, trong lòng tôi không được thoải mái lắm: phần phòng khách Tăng không người quét dọn dơ dáy, phần bị muỗi nhiều đua nhau cắn xé tôi, phần sư trụ trì (người Miến Điện) thờ ơ và cách đón tiếp khách tăng thiếu quan tâm; lòng dặn lòng phải kham nhẫn trong hoàn cảnh này.

Sáng sớm ngày 9 tháng 6, sau khi ngủ một đêm tại Đất “Thánh Địa”, nơi Đức Phật chuyển Pháp Luân lần đầu tiên độ cho 5 vị đệ tử đầu tiên là Tăng đoàn của đức Phật, tôi quyết đi lễ bái nơi Đức Phật một lần nữa và chuẩn bị thức ăn muối mè đem theo để dùng trưa tại nơi đây, để thấy được sự tự do khỏi phiền lòng đến sư trụ trì và cũng để có một bữa “ngọ” hạnh phúc tại nơi Đức Phật cùng với chư Tăng và 1250 tỳ kheo năm xưa cùng trụ nơi đây thường nghe Đức Phật thuyết pháp.

Sau khi lễ bái, xin một nắm đất Phật, chụp hình quay phim để làm lưu niệm, tôi mua được 12 Rupi cơm trắng tại một quán nhỏ đem vào dùng “ngọ” nơi khung viên Vườn Lộc Uyển, ngồi nơi thảm cỏ xanh dưới bóng cây tươi mát, nhìn về phía tháp cao ngất và to lớn của Vua A-Dục xây thờ Xá Lợi Phật bên trong, và nhìn về một cái nhà tàng bằng bê-tông đúc để che nơi Đức Phật khi xưa Ngài ngồi nơi đây, nơi Toà Sư Tử, thuyết pháp cho hàng đệ tử nghe và trước mặt bục gạch cao và to xây tròn này còn có rất nhiều bục gạch thấp và tròn sắp xếp bên dưới mà Vua A-Dục xây, để đánh dấu nơi đây khi xưa mỗi một vị thánh tăng đệ tử của Phật có hơn 2000 vị ngồi nghe pháp.

Một trong 2 ngôi đại tháp lớn còn nguyên vẹn như một cái đồi núi, xây bằng gạch đỏ, có hình tròn

Ăn cơm xong, đi kinh hành niệm Phật ngồi thiền và sau đó tôi vào trong bảo tàng viện để xem những kiến trúc cổ của Phật giáo. Vé vào trong chỉ có 50 xu và mọi vật dụng đem theo đều để lại có locker để giữ đồ mình khỏi mất và tránh người đem máy chụp hình theo. Sau khi đi một vòng tôi nhận xét rằng Đạo Hồi Giáo (Islamism) cực đoan và tàn bạo đã tàn phá rất nhiều di tích của Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ nên các tượng ở đây đều bị xức mẻ và hoặc gãy đầu mặc dù các kiến trúc đều bằng đá.

Đặc thù là hình tượng đá loại đặc biệt với kiến trúc của 4 cái đầu con sư tử quay về 4 hướng có chung 1 cái thân rất đẹp và hùng dũng, tôi đã thấy 2 đầu của nó bị xức mẻ quai hàm dưới. Trong con sư tử 4 đầu này có lưu giữ Xá-Lợi của Phật bên trong nằm trong hai ngôi tháp lớn như một cái đồi núi, xây bằng gạch đỏ, có hình tròn như các nóc đền thờ của người Hồi Giáo bây giờ, và Xá-Lợi của Đức Phật Thích Ca cất bên trong con sư tử 4 đầu đã bị lấy cắp đi khi nửa phần trên của tháp đã bị người Hồi Giáo đập phá, còn một con sư tử còn lại thì vẫn nằm bên trong tháp còn lại.

Quán Chiếu Dòng Sông Hằng

Chiều trưa khoảng 1:00 p.m., tôi đến khách sạn Aso để nghỉ sau khi rời Sanath, vì khách sạn này ở Varanasi gần một ngôi chùa Burma (Miến Điện) và cũng gần bến xe lửa tiện cho tôi hơn vào sáng sớm ngày mai sẽ rời Vườn Lộc Uyển (Vườn Nai) tiếp tục đi chiêm bái Bồ-Đề Đạo Tràng. Sức khỏe là vàng và rất quan trọng cho toàn bộ cuộc hành trình về xứ Phật độc hành này của tôi, nếu ngủ không đủ tôi sẽ mất sức và ảnh hưởng cho cuộc hành trình chiêm bái kế tiếp nên tôi quyết định chọn một khách sạn để có nơi nghỉ ngơi tắm giặt.


Vào khách sạn thì thoải mái và mát mẻ nên tôi ngủ một giấc dài bù lại tối qua ở chùa Burma gần Vườn Lộc Uyển bầy muổi thay nhau "châm cứu" free suốt đêm tôi đành phải chiều theo nó vì hình như chúng cũng rất thích mùi tàu hủ tương chao nơi thân thể của tôi.

Thức dậy, tôi nghe nhân viên khách sạn giới thiệu nói rằng, ở gần đây có một con sông rất nổi tiếng của Ấn Độ, Ngài nên đi xem đi thì sẽ biết. Họ nói nhưng tôi không đoán biết là họ nói tên con sông gì, nhưng tôi vẫn cứ đi xem một chuyến vì còn thời gian buổi chiều lưu tại đây mai sớm đã rời thành phố Varanasi rồi, cho nên tôi lấy quyết định rời khách sạn đi đến con sông này. Đón xe xích lô tốn 5 Rupi đi khoảng 2km thì người đạp xích lô xứ Ấn Độ dừng lại. Khi đến nơi rồi tôi mới thấy sự tấp nập nhộn nhịp sinh hoạt đời sống nơi đây như chợ Bến Thành Saigon, và tôi mới biết tôi đang đến thăm dòng sông Hằng. Đây là con sông được nhắc nhiều trong các bài kinh của Phật ngày xưa làm tôi vô cùng thích thú hân hoan chi lạ. Phố xá đền đài kiến trúc cổ xứ Ấn đều nằm dọc theo bên con sông Hằng. Chiều hôm nay ngồi dưới bờ sông trên con thuyền tôi thuê đi 1 giờ đồng hồ (20 Rupi) để đi tận mắt trên dòng sông này, tay tôi đưa xuống nước trong xanh nâng niu từng giọt nước như đang nói chuyện với dòng sông vậy, cảnh thật mát mẻ nhìn sông nước mênh mông nhưng có nhiều xác bò chết bỏ xuống sông bị xình thối (Ấn giáo là đạo thờ bò không ăn thịt bò nên khi bò chết thì được tế lễ trang nghiêm rồi thuỷ táng), cộng thêm những xác người nổi trôi bồng bềnh trên sông xem như không có chuyện gì lạ (thủy tán và hỏa táng).

Khi ngồi trên thuyền tôi được chứng kiến thấy một xác chết cách chiếc thuyền của tôi khoảng 10 mét, hai con mắt của xác chết đã bị con chim nào đó gắp ăn rồi để lại hai lỗ hõm sâu như con cá to bị thui nướng đã được con người ưa chuộng gắp đi ăn trước vậy! Hai ngón tay cái bị cột chặc lại với nhau để trước bụng, cứ như thế mà trôi... Tôi không thấy có ai tỏ ra vẻ ánh mắt sợ hải, kinh ngạc, hay la lên, hay bịt mũi, v.v... như gặp các xác chết trôi tại sông Việt Nam. Cách xác chết không xa là bờ sông, người dân họ tập trung đông đúc tắm rửa, vui cười, và nhộn nhịp hơn như người dân Hoa Kỳ tắm nắng dọc theo bờ biển Mahattan Beach tại California vậy, họ vẫn dùng nước sông Hằng tắm giặt, nấu ăn uống, và thờ phượng, vì họ tin rằng mỗi ngày được tắm nước con sông Hằng linh thiêng này là được rửa hết tội lỗi được sanh về thiên đàng?

Cách không xa chỗ người dân thường tập trung tắm đi về hướng hạ lưu dòng sông thì có một dịch vụ thiêu xác người chết với những đống củi đơn sơ dùng đốt xác người, tôi có thể ngửi biết được mùi khói bay phảng phất khét khét nặng hơn mùi ba-bi-kui nướng ở Mỹ. Sau khi làm lễ theo phong tục Hindu cho một người chết cạnh ngay bờ sông Hằng, họ bỏ người chết trên một băng ca làm bằng cây thô sơ có cán cầm và bạt lại để dọc theo tầng cấp hướng sát xuống mặt sông trên mình người chết đầy những chuỗi hoa vạn thọ màu vàng. Xong họ đem vào đốt ở đống củi lửa gần đó mùi khét xông lên nồng nặc, tôi không nghe nhạc lễ gì hết. Dọc theo sông Hằng rất nhiều ngưòi tắm vào lúc này và đa số đều tập trung theo bờ sông hoặc buôn bán, chơi game hoặc bắt mời khách du lịch đi thuyền, du khách đến đây đều muốn đi một chuyến trên con sông Hằng này.

Mùa hè nước cạn nên để lộ bờ cát trắng xoá bên kia bờ sông Hằng, bề ngang chỉ bằng con sông Hương ở Huế, có một chiếc cầu về hướng bắc chỉ có 7 nhịp. Nếu mùa nước lớn bề rộng chắc rộng hơn nhiều họ cũng qua bên kia bờ sông để chơi các trò chơi bên kia, tôi không thấy nhà cửa hay đền thờ gì cả. Từ bên đó mặt trời buổi sáng mọc lên và họ làm lễ theo đạo Hindu (Ấn Giáo), mặt trời là Thượng Đế nên rất nhiều người tham dự đứng dưới nước sông Hằng làm lễ cầu nguyện mỗi sáng sớm dù mùa đông lạnh cũng làm như vậy giống như các Phật tử lễ chùa sớm mỗi sáng hằng ngày vậy. Vào dịp buổi sáng thì du khách đến xem rất nhiều với sự tò mò của họ về người dân bản xứ, tôi đi vào buổi chiều thì chỉ thấy vài du khách người Tây phương, còn là dân các miền của nước Ấn về hành lễ.

Đây là dịp tốt mà tôi chứng kiến con sông Hằng, bao nhiêu những lời dạy hoặc câu chuyện về con sông trong kinh Đức Phật mà tôi được nghe đều hiện về trong tâm tôi như chuyện một Bà-La-Môn thi thố thần thông qua sông, như câu chuyện một hôm Đức Phật cùng Tăng đoàn muốn đi qua bên kia bờ sông Hằng, trong lúc chờ nghỉ ngơi tại bờ sông, Ngài thấy một vị Bà-la-môn đang dùng phép thần thông lướt nhẹ trên mặt sông đi qua đi lại một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Đức Phật muốn hóa độ ông và chỉ dạy cho Tăng chúng một bài Pháp thâm diệu nên Ngài gọi hỏi ông đạo Bà-la-môn kia rằng: hành giả đi lại tự tại trên mặt nước con sông Hằng một cánh nhẹ nhàng như vậy, xin hỏi tốn mất thời gian bao lâu để tu đạt được phép thần thông này? Ông đạo Bà-la-môn kia nghe đức Thế Tôn hỏi nên lấy làm đắc chí và nghĩ khó có ai học thành công được phép thần thông như ông ta, liền trả lời Phật rằng: tôi phải tốn mất 30 năm. Đức Phật liền quay lại dạy cho các thầy tỳ kheo trong đoàn rằng: ông Bà-la-môn kia phải bỏ ra 30 năm trời để mới luyện được phép thần thông đi trên mặt nước như vậy, nhưng lúc tử thần đến, ông ta không thể dùng phép thần thông này để tẩu thoát chạy trốn đi đâu được. Như Lai dạy cho các ông đừng luống phí thời giờ 30 năm như ông Bà-la-môn kia để chỉ qua được bờ sông, không qua khỏi biển nghiệp sanh tử kiếp người, Như Lai và các ông chỉ cần trả cho gã lái đò 3 xu thì đã qua được bờ sông Hằng bên kia rồi trong vòng rất ngắn và dành thời gian tu tập giác ngộ cứu khổ chúng sanh.

Nhìn chiều ngang của dòng sông Hằng, Nguyễn Tăng Tuệ Uy tôi xem đoán biết độ chừng nếu dùng thuyền thì sẽ mất khoảng chừng 20 phút. Câu chuyện trên là một bài học thật thâm sâu quý giá vô cùng cho những ai đệ tử của Ngài mà vẫn còn mãi tham mê thích cầu sự linh hiển hay thần thông, Đức Phật vì lòng từ bi thương chúng sanh nên Ngài đã ngăn không cho các đệ tử của Ngài dùng thần thông trong lúc đi giảng Pháp, vì dễ làm cho chúng sanh mê hoặc cầu cạnh, quên mục đích chính của sự tu tập giác ngộ và giải thoát. Cát hai bên bờ sông Hằng rất nhiều, cho nên trong Tam Tạng Kinh điển của Phật thường dùng ví dụ từ ngữ “Hằng Hà sa số” để biểu thị việc đó nhiều như số cát của Sông Hằng không thể đếm biết được.

Tóm lại, một hành giả đi về chiêm bái xứ Phật, con đường tốt nhất để khỏi bị shock là nên làm quen từ từ với những trở ngại và sinh tâm hoan hỷ chấp nhận mọi khó khăn trong sự di chuyển và uyển chuyển trong mọi hoàn cảnh tại Ấn Độ, theo Nguyễn Tăng khuyên thì nên khởi đi từ Kathmandu, Nepal đến vườn Lumbini, sau đó qua biên giới đến Kusinara nơi Đức Phật nhập Niết Bàn rất gần, và về Varanasi nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân, sau đó là về Bodh Gaya hay Bodhgaya là chặng cuối, tuy vất vả, nhưng bù lại khi hành giả đến Bồ Đề Đạo Tràng thì bạn sẽ phục hồi lại sinh lực rất nhanh, cũng cố lại niềm tin, và phấn khởi hơn nhờ Phật từ lực thiêng liêng mầu nhiệm rất đặc biệt tại chu vi mảnh đất thánh đại nơi Ngài thành Đạo.

So sánh giữa 2 nơi mà tôi đã đi qua là Vườn Lâm Tỳ Ni và Vườn Lộc Uyển, hai nơi nầy đều hoang tàn, nhất là Lumbini nhưng dù sao thì trong tương lai Lumbini sẽ phát triển mạnh và trang nghiêm hơn, vì nơi đây bắt đầu có nhiều nước về xây dựng và chú ý sau bao năm chính quyền Nepal bỏ lơ và làm khó khăn cho các nước đến làm chùa và phát triển. Hiện tại thì nơi Lộc Uyển tươi mát hơn, phong cảnh còn gần gũi hơn, nhưng rất ít chùa của các nước, sự lưu trú sẽ không tiện và chỉ nên ở khách sạn là tiện nếu trong dịp mùa hè vì phòng ốc các chùa đều đơn sơ không đủ tiêu chuẩn cho người nước ngoài đến hành hương, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của chuyến đi. Tuy nhiên nếu ai có chí thì sẽ vượt qua một chút trở ngại như vậy và họ sẽ nhận một phần thưởng kho tàng vô cùng quý giá trước mắt đang chờ hành giả.

Đệ Tam Động Tâm: Bồ-Đề Đạo Tràng – Nơi Giác Ngộ Thành Phật

Hôm nay ngày June 10, 1996, tôi thức dậy sớm, rời khách sạn đáp chuyến xe lửa vào lúc 1 giờ đến Bồ Đề Đạo Tràng. Tôi mua vé 560 Rupi hạng second vì hết First class, và chờ tới 3 giờ xe lửa mới khởi hành. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi mới thấy chuyến xe lửa đông người như thế, may mà có một chỗ vừa đủ để 1 bàn chân xuống sàn xe lửa, còn chân trái còn lại thì phải gác lên lưng bàn chân phải trong suốt hành trình trên xe lửa hình như Đức Thế Tôn đã thử thách đệ tử của Ngài nên mới có một duyên kỳ đặc tôi đang tu khổ hạnh đứng một chân như các vị theo phải tu khổ hạnh đứng một chân ngày xưa trong rừng Khổ Hạnh Lâm.

Người chen người lấn, có mấy người mang vali không có chỗ để họ phải đội trên đầu như vậy cho đến hết cuộc hành trình của họ, phần dơ bẩn làm cho ai nếu không có tâm thanh tịnh và niềm tin sâu Phật Pháp thì khi gặp cảnh này chắc sẽ nãn lòng nhất định như vậy. Xe lửa chạy như vậy mà an toàn và nhanh hơn, dọc đường nhìn bên đường xe khách chạy tôi thấy có hai xe bị lật, một chiếc băng qua thành cầu rớt xuống hố chắc tiêu hết, một chiếc lật ngang, vì đường xe chạy Ấn Độ đã xấu lại nhỏ hơn Việt Nam, 2 xe chạy tránh nhau thật nguy hiểm.

May mắn trên toa lửa, tôi có làm quen được 1 người bạn là thầy giáo hiền lành từ ga cho đến thành phố Gaya này. Khi anh bạn làm nghề thầy giáo này biết tôi một mình một bóng chiêm bái Thánh Địa và hòa lẫn vào với đám dân nghèo trên xe lửa anh ta rất cảm kích, anh còn gởi tôi xuống bến cho người khác giúp tôi nữa. Đây là một cơ hội cho tôi tiếp xúc với cảnh khổ của dân nghèo xứ Ấn Độ, cũng giống như lúc xưa Thái Tử Tất-Đạt-Đa có dịp được mục kích cảnh nghèo khổ bệnh tật chết chóc dân ngoài cửa thành nên Ngài bị tác động mạnh, và phát khởi lòng thương xót chúng sanh, quyết bỏ ngai vàng mái ấm gia đình riêng tư với vợ đẹp con xinh mà tầm đạo độ thoát chúng sanh.

Xe lửa ngừng, họ đổ chúng tôi xuống không phải nơi một trạm nào cả, nhiều người cùng xuống và đi bộ tới khoảng 400m, sau đó tôi đi xe xích lô (5 Rupi) về nơi trạm xe buýt. Lần này cũng như bao lần khác, tôi chỉ đi xe buýt vì rẽ lại tiện lợi chỉ có 3 Rupi từ đây cho đến Bồ Đề Đạo Tràng 14km đường. Bodhgaya, tiếng Việt là Bồ Đề Đạo Tràng, là một thành phố ở quận Gaya, Bihar, Ấn Độ. Đây là địa điểm nổi tiếng do là nơi Đức Phật Thích Ca đã giác ngộ thành Phật dưới cây bồ đề. Đường xá trong thị xã này rất nhỏ chỉ chạy vừa cho 1 chiếc xe buýt và xe thì nhìn rất xấu xí tồi tệ đến nổi làm cho tôi ngỡ là tôi đã bước lên lầm xe gì đó chớ không phải xe bus, vì trong đời tôi chưa thấy một loại xe bus nào kỳ dị như vậy.

Khi chạy ra ngoại ô một đoạn nhìn bãi cát chạy dài và biết đây là một dòng sông bị khô và biết đây là dòng sông Ni Liên Thuyền, khi xưa đức Phật đã 1 lần tắm nơi đây trước khi Ngài tọa cội Bồ Đề để chứng quả. Tôi đọc trong các sách, các vị về trước nói sông ngày rất cạn nước ở mùa mưa chỉ tới mắt cá, mùa này khô rang là đúng rồi, phong cảnh con đường dẫn về Bồ Đề Đạo Tràng rất nên thơ nhờ cây cối ở 2 bên.

Ngọn Tháp Mahabodhi (Đại giác ngộ tự) ở Bodh Gaya tôi đã được thấy từ xa khi xe đò chạy dần dần gần đến, tôi biết chắc mình đi đúng đường, và Bồ Đề Đạo Tràng đã hiện ra trước mắt tôi không phải trong mơ! Xuống xe đi bộ một khoảng tới gần trước trung tâm đầy các quán xá có vẽ rộn rịp hơn. Khung viên của Bồ Đề Đạo Tràng rất đẹp và cây cảnh thật là xứng đáng là nơi linh hồn của đạo Phật, tôi lấy lại phấn khởi và quên đi mọi sự mệt nhọc khó khăn đã qua. Đây là phần thưởng của Phật dành cho những đệ tử từ xa đến tham bái. Thế mới biết là công sức của ban tái thiết Bồ Đề Đạo Tràng hàng chục năm về trước.

Đi bộ khoảng 2 cây số nữa mới tìm thấy chùa Việt Nam tại nơi đây, chùa 3 tầng lầu, có nhiều phòng và mỗi phòng có 3 giường đầy đủ tiện lợi, có 3 cửa sổ mát mẻ dù là mùa hè đở hơn các chùa đã tôi kinh qua.

Kể từ trên xe lửa hơn khoảng 5 giờ đường và đến chùa đã trưa tôi khá mệt, sau khi nghỉ một giấc đến chiều tôi tranh thủ thời gian về Bồ Đề Đạo Tràng lễ Phật lúc 7:00 p.m. và trở về chùa Việt Nam lúc 8:00 p.m. Cây Bồ Đề thật lớn và đồ sộ vì lâu năm già tuổi, đứng dưới tàng cây Bồ đề, tôi cảm thấy tươi mát lạ thường như được lòng từ bi của Đức Phật bao trùm làm thân tâm có cảm giác khinh an pháp lạc.

Nguyen Tang Thich Tue Uy - HoPhap.Net

 Venerable Master Thích Tuệ Uy đang tọa thiền dưới cội Bồ Đề, Ấn Độ 1996

Chung quanh gốc Bồ-Đề có hàng rào bao bọc và trước sát gốc cội Bồ Đề có một toà bằng xi-măng chưng dọn trang nghiêm để đánh dấu Đức Phật đã ngồi nơi đây 49 ngày thành Phật. Sát gốc Bồ Đề là cái Tháp Mahabodhi (Đại Giác Ngộ Tự) thật cao và vĩ đại như toà nhà cao ốc bằng đá do vua A-Dục xây tạo và được trùng tu nhiều lần. Trong Đại Tháp này rất lớn có tôn thờ tượng Đức Phật Bổn Sư lớn như người thật thiếp vàng rực sáng rất hảo tướng trang nghiêm và rất có thần lực, có từ thời Đại Đế A-Dục tác tạo cúng dường. Vòng khu này có một lớp rào nữa bằng đá do vua A-Dục xây luôn. Bên rào trong là mới xây sau này, khung cảnh có hành lang đi kinh hành quanh tháp và cây Bồ Đề. Và sát hàng rào lớn có đèn một cột trụ để bảo đảm an toàn, khu đất này cũng có hành lang đi kinh hành, giờ này đi kinh hành rất là nóng chân vì đá hút nhiệt ban ngày còn rất nóng. Tôi đảnh lễ kinh hành cây Bồ Đề xong và gặp được các chư tăng bản xứ trò chuyện đôi chút tôi từ giã ra về.

Rời nơi tòa Kim Cang nơi gốc cây Bồ-đề, Đức Phật đi tìm 5 ông anh em Kiều Trần Như lúc trước cùng tu hạnh khổ hạnh với Ngài trong Khổ Hạnh Lâm. Bồ-Đề Đạo Tràng nằm nơi một địa thế có các mô đất bao chung quanh ở chu vi bên ngoài, cho nên đường kính thành vòng lớn sát hàng rào lớn là trên con mô đất cao này, có ba cổng chính dẫn đến cây Bồ-Đề, cổng ở hướng Đông là cổng chính thường mở từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối. Có người quét dọn hằng ngày sạch sẽ, mùa hè tuy nóng mà vẫn có các đoàn hành hương và chư tăng các nước về lễ bái.

Photo: Cổng ở hướng Đông là cổng chính dẫn vào trong Đại Bảo Tháp ngay bên cạnh cây Bồ-Đề, cây này nằm hướng Tây ngay sau lưng Đại Tháp xây từ thời vua A-Dục


Bên hướng Nam có một cái hồ sen thật lớn có thờ 1 tượng Phật Thích Ca lúc Ngài đang tọa thiền gặp rắn thần bao quanh che Ngài lúc bị mưa bão tầm tả. Bên hướng Tây cũng có vườn cây và vài loài thú làm tăng thêm vẻ đẹp và mát mẻ cho Trung Tâm Bồ Đề Đạo Tràng. (Thánh Địa này nay đã trở thành di sản của thế giới vì UNESCO chính thức công nhận năm 2002)

Dân chúng nơi đây rất nghèo nàn và đời sống còn rất thô sơ trong thế kỷ 21 sắp tới này. Thật tội nghiệp cho những người con ở xứ Phật lại nhiều đời vô minh phá hủy Phật Pháp. Tôi thấy nhiều người phong cùi ăn xin chung quanh Bồ-Đề Đạo Tràng sực nhớ đến lời kinh Phật dạy rằng nếu ai đã từng hủy báng Phật Pháp thì sau khi từ địa ngục lên thì làm người thiếu oai đức bị cùi hủi phong lỡ nghèo khổ, khi chết lại đọa lạc nữa. Thật đáng thương! Vì nghiệp ác gây tạo nhiều đời, dân chúng Ấn Độ đã si mê lầm lẫn và cực đoan nên tàn sát Tăng Ni, phá hại Phật Pháp ở vào đầu thế kỷ 13 để theo Đạo Hồi. Cho đến ngày nay đất nước này còn mang nghiệp rất nặng, đến đời tương lai cũng như vậy, khi mà các đạo xứ này vẫn còn hiện hữu, con người ở đây mãi ngu muội và chậm tiến, ví dụ như họ tin rằng loài bò là vật rất linh thiêng bất khả xâm phạm, là mẹ của mình, và họ tôn thờ nó, cho nên nó đi lung tung ở bất cứ nơi đâu trên đường phố làm cãn trở lưu thông, gây tai nạn chết nhiều ngàn người mỗi năm và thương tích, phóng uế dơ dáy, ...

Bồ Đề Đạo Tràng thật là nơi linh thiêng thánh địa, đất cả hai nơi tôi đi qua và nơi cuối cùng tôi sẽ đi, cũng bị đạo Hồi tàn phá hết, chỉ có di tích Phật nơi đây là không bị họ tàn phá tiêu diệt, họ đốt cây Bồ Đề nhiều lần để xóa vết tích thiêng liêng nơi cõi Ta-Bà này, nhưng cây Bồ Đề vẫn ngang nhiên mọc trở lại bất kể mọi thế lực điên cuồng vô minh và cực đoan. Đó là nhờ sự hộ niệm mầu nhiệm của chư Phật chư Bồ Tát, Long Thiên Hộ Pháp, tôi chiêm nghiệm và lòng sung sướng vô cùng tỏ lòng tạ ân các Ngài đã hộ vệ nơi đây còn nhiều linh khí để hơn 25 thế kỷ sau Nguyễn Tăng người Việt Nam xa xôi vẫn còn được có cơ hội về đây chiêm bái đảnh lễ cúng dường mà tăng trưởng đạo tâm.


Thầy Tuệ Uy đang tọa thiền dưới cội Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo, Ấn Độ 1996 -- www.HoPhap.Net


Sáng hôm nay như thường lệ, (ngày 12 tháng 6) sau 3 ngày 2 đêm ở Bồ Đề Đạo Tràng, tôi đi sớm đến cội Bồ Đề để tọa thiền và kinh hành, sau đó tôi có rất nhiều thời gian để quay phim và chụp ảnh, vì đây là nơi quan trọng lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được vinh dự đặt chân đến nơi mãnh đất Thánh Địa này. Và thường thường ở tại bất cứ nơi nào trước khi rời, tôi đều chụp hình lưu niệm cho tư liệu rất cần sau này, vì tôi muốn các ngày đầu mới đến mình dành thì giờ trước lễ bái, tham quan sau đó mới chụp hình hoặc quay film làm như vậy cuộc lễ bái thêm trang nghiêm trước khi các sự chụp hình lưu niệm xen vào.

Quán Chiếu Dòng Sông Ni-Liên-Thuyền

Buổi trưa hôm nay trong khi chờ bưu điện mở cửa làm việc từ 10 giờ, tôi được một vị Đại Đức hướng dẫn tôi sáng nay (người Indian tu học ngụ tại Trung Tâm Quốc Tế Bồ Đề Đạo Tràng) đưa tôi đến dòng sông Ni Liên chạy dài từ phương Nam hướng ra Bắc, cách Bồ Đề Đạo Tràng 100m. Mùa này nước đã khô nên phơi lộ ra cả một bãi và lòng sông cát trắng như quê hương Quảng Nam Đà Nẵng tại Việt Nam của tôi, bờ sông bên này nhìn sang bên kia khá rộng bằng Sông Hàn ở Đà Nẵng.

Tôi đứng đây nhìn về hướng Đông Bắc là vài ngọn núi khoảng chừng 7-8km đường chim bay. Nơi đó là nơi Đức Phật Ngài đã tu theo hạnh đạo khổ hạnh như vậy trong 6 năm dài với sức nóng 6 tháng mùa hè thiêu đốt và 6 tháng mùa lạnh sương buốt, vậy mà một vị Đông cung Thái tử tấm thân vương giả như Ngài đã dũng cảm phi thường chịu được với mỗi ngày ít hột mè, thì quả là bậc siêu nhân đáng cho muôn đời ngưỡng phục vì hạnh nguyện tầm đạo cứu chúng sanh của Ngài.

Sau đó tôi nhìn từ vùng núi không cao lắm (như đồi lớn) nhìn lại hướng Nam bên kia bờ sông của dãy núi, tức hướng Đông nhìn qua sông nơi từ chổ tôi đứng là nơi kỷ niệm của người Mục nữ tên Asuta khi xưa đã dâng cúng ít sữa giúp cho Đức Phật chúng ta tỉnh khoẻ và sau đó từ nơi này Đức Phật lội (nước ngang chân) qua bên bờ sông hướng Tây này (bên tôi đang đứng) để sau đó Ngài lên bờ đi thêm 100m nơi có cội cây Bồ Đề và Ngài ngồi xuống đây quay mặt về hướng Đông phát thệ: “Nếu ta không đạt được mục đích giác ngộ tối thượng thì không rời cội cây này”. Trước đó nơi bờ sông Ni Liên, Ngài cũng đã để cái bát mình xuống lòng sông và phát nguyện rằng nếu sau này ta đạt được sự giác ngộ cao thượng thì cái bát này sẽ trôi ngược lại dòng sông, nhờ sự phát nguyện và sự chú tâm tu trì, cái bát sau đó từ từ trôi ngược lại dòng sông trong khi dòng nước đang chạy xuôi xuống. Trải qua 49 ngày đêm thiền định nơi cội Bồ Đề Ngài đã thành chánh quả.

Photo: Cội Bồ-Đề Đức Phật Thích Ca nhìn về hướng dòng sông Ni-Liên-Thuyền

Từ tầm mắt nhìn về bên kia dòng sông khô nước Ni-Liên tôi liên tưởng hình ảnh Đức Phật thật tiều tụy, Ngài vì thương chúng sanh nên không màng tất cả gian nan để nhứt định tìm ra con đường giải thoát vĩnh cửu cho nhân sinh, nhứt là đương lúc là 1 vị Thái Tử như Ngài luôn ở trong cảnh thuận duyên sung sướng đã quen trước đó mà 6 năm khổ hạnh quả là 1 sự hy sinh vĩ đại tột cùng. Càng nghĩ càng thương và kính mến Ngài hơn. Rồi từ đây Ngài băng bộ lên Sanath nơi vườn Lộc Uyển, nơi mà tôi mới vừa rồi đi bằng xe lửa gần 6 tiếng đau khổ trong xe, với tốc độ xe lửa ở nơi đây nhanh hơn xe lửa của Việt Nam vì đường rày rộng 1m2 và hai đường lưu thông, không phải chờ ở ga lâu. Vậy mà còn mất thì giờ nhiều như vậy (có khi 100 km/giờ) huống chi Đức Phật băng bộ còn khổ cực biết bao. Chắc cũng phải mất hơn 10 ngày đến 30 ngày vừa đi vừa nghỉ trong thời Đức Phật.

Đó cũng là một điều tôi thích thú là Đức Phật muốn thử thách lòng kiên trì và sự tín tâm của đệ tử Ngài sau này nếu có đi muốn đi tham bái? Chỗ nào cũng xa hết? Nghĩ mà thương Đức Phật, vì Ngài không quản đường xá xa xôi mà đến tìm cho được 5 anh em ông Kiều Trần Như lúc đó đang còn tu nơi khu vườn này, để độ thành 5 vị đệ tử xuất gia đầu tiên là bậc “Tăng Bảo” có sau “Pháp Bảo” là bài Thuyết Pháp của Phật lần đầu tiên cho 5 anh em của ông Kiều Trần Như. Như vậy kể từ đó 3 ngôi Tam Bảo mới đầy đủ. Đức Phật đến Vườn Lộc Uyển chỉ vì nghĩ 5 vị này có duyên tu cùng với Đức Phật khi trước, và nghĩ đây là cái ân, ngoài ra 5 vị này có thể đủ trí tuệ hiểu lời dạy của Ngài. Thật vậy 5 vị đã chứng quả A-LA-HÁN liền lần đầu tiên đệ tử Phật.

Sáng hôm nay, ngày 13 tháng 6, tức sau khi ở thêm 1 đêm là 3 ngày 3 đêm ở Bồ Đề Đạo Tràng, tôi được thượng tọa người ấn đưa tôi ra bến xe bus gần đó để đi về Rajgir (16 Rupi). Xe rời bến 5:50 sáng, chạy vài tiếng đúng 9:00 a.m. là tôi đến Na-Lan-Da. Thay vì xuống Rajgir để đi về (Gidikuta) núi Linh Sơn, nhưng tôi ngồi trên xe đi thẳng đến khu trường Đại Học Phật Giáo Nalanda cổ kính nhất thế giới để thăm (trả thêm 4 Rupi), từ đường chính tôi được chở trên xe đạp 3 bánh (Richar) vào trường đại học cũ này có từ hơn 2 ngàn năm trước khoảng 4km (5 Rupi) xuống xe là đúng 9:30 giờ.

Trường Đại Học cổ Phật Giáo mở cửa và bán vé (50 cent) cho du khách tham quan, tôi đi thăm tất cả phòng ốc của trường, nơi mà giờ đây chỉ còn là nền gạch, một thời cực thịnh với 10,000 người học và hơn 200 giáo sư, trường nổi tiếng và được các nhà khoa học công nhận là trường đại học cổ nhất thế giới có từ lâu đời. Tại sao trường này lớn và nổi tiếng suốt nhiều thế kỷ như vậy? Chính bởi vì Đức Thế Tôn khi xưa Ngài đã có 1 lần ngự nơi đây thuyết giảng, cho nên nơi đây có một khu tháp xây thờ Ngài, đó là nhờ ân Đức Từ Bi và Trí Huệ của Đức Phật gia trì. Nhưng cái gì rồi cũng vô thường theo thời gian và trường Nalanda đã bị tàn phá trước đây vài thế kỷ.

Tôi có lễ Tháp và xin ít đất gạch làm Thánh Bảo linh thiêng tôn thờ cho sự nghiệp học của tôi sau này tại xứ Mỹ. Nếu ngày sau tôi được rạng danh tốt đẹp, có lợi ích cho Phật Pháp và Dân Tộc hay không, đó là quả quyết nhờ sự gia hộ của chư Phật tại nơi Thánh Địa và nơi Trường Đại Học Phật Giáo Nalanda này. (Lời chú thêm: Ngài Nguyễn Tăng từ lúc rời nơi đây trở về Hoa Kỳ đúng 6 năm sau Ngài đã đăng khoa tốt nghiệp thạc sỹ tại một siêu cường quốc Hoa Kỳ vào năm 2002, và từ đó Ngài làm việc như một nhà chuyên gia tâm lý xã hội psychotherapist đã cứu sống nhiều mãnh đời đau khổ với tâm linh tan nát của người Việt Nam từ hậu quả chiến tranh Việt Nam, tù tội, và vượt biển tỵ nạn).

Sau đó tôi trở ra cổng và đi về hướng bên kia thẳng vào viện bảo tàng rất nhỏ - bên trong có nhiều tượng cổ từ thế kỷ 2-3 sau Công Nguyên, nhiều tượng Phật đã bị hư hoại bởi Đạo Hồi tàn bạo, si mê, và cực đoan trên thế gian mà Đạo Phật cao thượng gặp cái nạn “Bãi phân bò” này. Nếu không nhờ cốt tủy giáo lý khoan dung từ bi trí tuệ của Đạo Phật thì khi nhìn các cảnh tượng quá đau lòng này những người Phật tử khắp 5 Châu 4 biển đã sẽ có thể kéo quân về đây rửa hận phục thù cho bài học sự tàn sát phá hủy tàn bạo độc ác này của Hồi Giáo.

Rời viện bảo tàng lúc gần 11:00 trưa, tôi đón xe đạp đi trở ra khoảng gần nửa đường thì quẹo phải đi vào khu trường tân Đại Học Nalanda. Trường rất nhỏ nằm kế bên bờ sông phía trước mặt cơ sở phòng ốc cũ kỷ nghèo này như một khu nhà cũ. Trường gồm có 36 học sinh thời lúc tôi đến. Tôi có đến thăm khu phòng trọ của sinh viên, các vị này đều là sư thuộc phái Nguyên Thủy Phật Giáo Nam Tông và từ các nước đến chỉ trừ Việt Nam như lúc đầu tôi lầm tưởng sẽ có vài vị sư Việt Nam du học và tôi đến đây ghé thăm. Tôi được một người trong ban quản sự trường hướng dẫn đến thư viện của trường. Thư viện cũng ít sách và chật hẹp bằng thư viện ở Bồ Đề Đạo Tràng nhưng sách kinh ở đây có giá trị hơn. Tôi thấy không khí xa lạ và sự đón tiếp của các sư Nam Tông không được thân thiện lắm nên cáo từ ra về. Đa số ở đây các sư trẻ có vẻ chuộng và ưa thích xe đạp, cho nên thấy chiếc nào cũng bóng bẩy ngon lành cả.

Thay vì theo dự định tôi sẽ nghỉ ở đây, tại chùa Tàu hay các chùa quanh khu Đại Học cũ, nơi đó có vết tích ngày xưa Ngài Đường Huyền Trang Tam Tạng đi thỉnh kinh đã có 1 lần đến đây tham học ghé bước, nhưng tôi lại thay đổi chương trình ra về trở lại Rajgir tìm mướn 1 khách sạn rẽ tiền nhưng không ruồi muỗi nhìn như bao khách sạn khác ở chung quanh. Khách sạn cách khoảng vài chục mét đi bộ nơi bến xe bus Rajgir tên là Hotel Raj địa chỉ Rajgir (Nalanda) Bihar Pin Code No 803116 – India. Đây là một khách sạn tương đối tốt và tiện cho khách du lịch giá chỉ có 135 Rupi có cả cooler làm mát.

Sau khi ổn định chỗ nghỉ, tôi đi tìm mua nưóc uống nhưng nơi đây lại không có, may là tôi mua được một bình tại trường Nalada cũ (10 Rupi), hỏi thăm thì được biết cách đây 1km mới có chỗ bán và phải mua với giá (15 Rupi), nếu lần khác đi tôi sẽ mua nước từ cổng trường Nalanda cũ để dự trữ cho số ngày mình định ở tại nơi đây.

Núi Linh Sơn

Chiều hôm nay tôi quyết định đi lễ bái Đạo Tràng Linh Sơn Pháp Hội trên ngọn núi Linh Sơn, nơi xưa kia Đức Thế Tôn thường ngự thuyết pháp. Cảnh núi đá nầy hình như con ó ở gần thành Vương Xá. Đọc theo dịch âm là Kỳ Xà Quật, dịch nghĩa Linh Thứu Sơn hay là Kê Túc Sơn (Núi Kê Túc). Sau khi biết đường hướng phải thuê 1 chiếc xe ngựa đúng giá chỉ đi và về 20 Rupi. Nhưng tôi cho thêm 20 Rupi nữa. Xe ngựa dừng lại một nơi xa chỗ bến xe Rajgir, nơi mà không có bán nước uống, chứng tỏ không có du khách thường xuyên đến. Xe ngựa chạy khoảng 4km thì quẹo vào vào 1 cổng lớn và dọc theo 2 bên đường trồng cây bóng mát, tất cả đều do Phật Giáo Nhựt Bổn xây dựng và phát triển.

Đến chân núi Linh Sơn tôi theo đường đá lót rộng khoảng 1, 2m dẫn lên núi. Giữa 1:30 trưa nắng, nóng chỉ mình tôi độc hành, may nhờ có chiếc dù của một vị Đại Đức người Ấn ở Bồ Đề Đạo Tràng tặng cho nên rất đỡ nóng. Trước khi lên trên đỉnh núi, đi ngang qua 1 hang đá tôi dừng lại lễ bái vì xưa kia là nơi có các vị Thánh Tăng ngồi thiền và trú nơi đây, chỗ này rất mát. Đi thêm vài chục thước tam cấp nữa thì đến nơi đỉnh núi này tôi thấy một nơi vuông vức xây lên để đánh dấu chu vi chỗ Đức Phật thường thuyết Pháp, khi xưa chỉ là núi đá nguyên thủy không được bằng, chắc có lẽ sau khi Ngài vắng bóng thì các đệ tử mới xây thành mặt bằng vuông vức.

Trên mặt bằng rộng này ở về hướng Bắc có một bục gạch thấp và chung quanh có bờ gạch xây cao 1m chừa cửa ở hướng Nam vài tấc, nơi đây chính là nơi Đức Thế Tôn an tọa thuyết pháp nơi hội Linh Sơn, các hàng Bồ Tát chắc ngự trên hư không, vì nơi đây chu vi có bờ gạch làm lan can bề ngang 10m, bề dài khoảng hơn 20m, làm nơi trung tâm Đức Phật thường thuyết Pháp và có Hằng-hà sa số thánh chúng đến trụ trên hư không nghe Pháp.

Sau khi chiêm bái xưng tụng danh hiệu Đức Phật và Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ-Tát, tôi chụp hình quay phim lưu niệm và không quên cầu nguyện hồi hướng công đức đến các Phật tử và ân nhân, cùng pháp giới chúng sanh. Tôi trở xuống núi qua 1 chiếc cầu nhỏ xinh xinh bằng xi măng thì tới 1 ngã ba đường, tôi quẹo bên phải để lên trên đỉnh núi bên cạnh cao hơn đỉnh núi Đức Phật thường an tọa thuyết pháp các bộ kinh Đại Thừa.

Đường lên núi dốc hơn và cao hơn nhiều, trời càng lúc bốc hơi nóng khô khan khó chịu vào lúc 3 giờ hơn, tôi cảm thấy mệt và thở dồn dập, mồ hôi ra như tắm, nhưng tôi vẫn Niệm Phật quyết lên đến cùng, cho dù tôi có ngã ra té xỉu giữa đường bỏ mạng vì không người cứu giúp thì tôi cũng đi, trong lòng nghĩ rằng lúc phát khởi hành trình chiêm bái xứ Phật tôi đã phát nguyện nếu có chết thì chết tại mãnh đất thánh địa xứ Phật cũng mãn nguyện. Khi lên đến nơi thì tôi vô cùng ngạc nhiên như có phép lạ mầu nhiệm và cảm thấy vui vẻ phấn chấn khi chiêm ngưỡng cho một công trình đại qui mô trên ngọn núi này, những tác phẩm nghệ thuật chùa tháp sáng giá do nước Nhựt xây dựng, một cái tháp tròn rất lớn để thờ Phật mà từ nơi ngọn núi Linh Sơn nhìn lên thấy rất nhỏ nhưng không ngờ lên thì rất khổng lồ vĩ đại.

Mặt tiền ngôi Đại Tự có 2 con sư tử đứng hầu mặt chính này quay về hướng đông và trên tháp có thờ Đức Bổn Sư Thành Đạo. Đi về bên trái hướng nam, có tượng Đức Phật thuyết pháp bên trên, hướng tây có thờ khắc tượng Phật Nhập Diệt và hướng bắc có tượng Phật Đản Sanh. Hướng này tức bên phải của tháp có một ngôi chùa tên “Diệu Pháp” đang có 2 thầy Nhựt Bản trụ là nơi phát ra tiếng trống kỳ diệu tôi chưa bao giờ được nghe tiếng trống như vậy trong cuộc đời xuất gia tu học, tiếng trống âm vang phát ra nghe đại hùng đại trí đại từ bi như khích thích hành giả mau mau trở về bản giác, tiếng trống đều đều và rơi rơi rõ ràng từng âm một làm tăng thêm cảnh hùng vĩ linh thiêng của miền núi, (Sau này các huynh đệ tôi lắng nghe lại những âm thanh tiếng trống này tại chùa Diệu Pháp từ băng video họ cũng cảm nhận như tôi vậy, trọn cuộc hành trình chiêm bái và thỉnh kinh được thâu vào 5-6 cuộn video tape cở lớn nay đã thất lạc vì di chuyển nhiều nơi, cuối cùng gia đình Phật tử Từ Hòa & Tuệ Chánh, El Monte làm thất lạc, chỉ còn hi vọng 2 bản copy còn lưu lại của gia đình họ Nguyễn tại Việt Nam, hoặc chùa An Lạc -- San Jose, Sư bà Nguyên Thanh).

Gần 5 giờ chiều tôi muốn xuống núi, mệt nhừ vì đi liên tục rồi không điểm tâm, không ngọ trai, không nước uống gì cả nên tôi không muốn xuống núi bằng đường bộ như lúc lên núi nữa mà muốn dùng thần thông bay xuống núi một cách nhanh chóng để dưỡng sức cho chiếc thân tứ đại này đang kêu ca. Thần thông này tôi không cần khổ luyện lâu năm gì cả, chỉ trong tức thời bỏ ra 10 Rupi là xuống núi nhẹ nhàng thoải mái liền. Đó là vì nơi đây, Phật tử Nhựt Bổn đã bỏ tâm huyết làm công đức xây dựng một công trình đường dây cáp treo, nơi đây trở thành một thắng cảnh cho người du lịch, còn bên kia núi Linh Thứu vẫn giữ được một không khí trang nghiêm thanh tịnh cho người tu. Đường dây cáp có treo những ghế ngồi trên đó cho du khách lên và xuống nơi ngọn núi cao này, nếu ai đi lễ bái ở ngọn Linh Thứu thì chỉ đi bộ, hoặc bằng đường cáp rồi đi bộ xuống lại.

Vào mùa tháng 10 trở đi có rất nhiều khách, tăng và Phật tử họ về đây tu tập tọa thiền và ở lại luôn đêm trên đỉnh núi nơi Phật thuyết pháp. Khi tôi đi Ấn, một vài vị đi trước nói rằng khi đến chân núi không nên lên một mình như tôi đang đi, đúng là vắng hoe, nhưng tôi vẫn tin tưởng có Phật độ sẽ an lành và vẫn cảnh giác quyền cước nội công và võ công Thiếu Lâm Tự để chống trả đối phương nếu bị tấn công.

Trên ghế đu ngắm cảnh rất đẹp ra vẻ du lịch hơn, có vẻ tân thời. Tôi ngồi trên dây cáp giống như người dùng thần thông bay đi lơ lửng giữa trời cao gió lộng, và thầm nghĩ Đức Phật Ngài sẽ cười và nói: “Coi đệ tử của ta ở thế kỷ 21 kìa, giỏi thật!”. Nhìn xuống giờ này tôi mới thấy nơi đầu núi có một đoàn Phật tử và 2 vị sư đang đi bộ tiến lên để lễ bái. Như vậy giờ này 5 giờ rồi mà còn có người lên chắc trời mát và trên xích ghế đu hướng lên núi cũng đầy người ngồi cả… Suy ra, trời buổi sáng mát và chiều tối có đông người hơn, chứng tỏ rằng anh chủ khách sạn nói đúng, không nên đi lên núi vào giờ này (lúc đó khoảng 1 giờ trưa), nhưng tôi vẫn quyết định đi để tranh thủ trở về cho kịp, để ngày mai rời nơi đây vì thời gian không còn nhiều. Lần khác nếu đi tôi sẽ thẳng lên núi xin trọ luôn cho tiện. Sau khi xuống núi ra xe ngựa về tôi mới cảm thấy vùng này cũng an ninh chớ không có gì.

Sáng nay 14/6, tôi rời khách sạn sớm khoảng 5:30, đi bộ 2 phút đến bến xe tôi lên xe zeep đi Ihar Sharif (3 Rupi) khoảng 13km. Từ đây tôi đón xe bus đi Patna (12 Rupi) khoảng hơn 100km. Đến Ihar Sharif rất sớm 9:30 sau 3 giờ rưỡi chạy, vì chuyến đầu tiên bắt đầu từ 6:10 sáng.

Nếu từ đây tôi muốn đi thăm thành Vaishali (Xá-Vệ Thành), nơi có Tinh Xá Kỳ Viên nổi tiếng do Thái Tử Kỳ-Đà và ông trưởng giả Cấp-Cô-Độc dâng cúng Phật và Tăng Đoàn, thì tôi phải đi đến Rajindra Nagai (10 Rupi). Có một ngôi chùa lớn trong 10 chùa của nước Miến Điện – Burma Temple do Rev. U. Dhammacara trụ trì, và từ đó tôi sẽ đi Vaishali dễ dàng hơn. Nhưng có nhiều Thầy bàn ra không nên đi Vaishali vì đường đi không có xe và khó khăn. Phần đi đường thấm mệt nên tôi nghĩ thôi có dịp khác rồi đi lúc đó đông người dễ dàng hơn và vào mùa mát, con người thấy dễ chịu hơn.

Nghĩ lại cũng tôi tiên tiếc sau khi quyết định không đi, nếu đi thì cũng không sao, bao khó khăn đã vượt qua và đã đến đích huống gì đến Vaishali, chỉ cần nghỉ lại 1 đêm ở chùa hay khách sạn gần bến xe bus ở Patna thì sáng sớm đi chiều về dễ quá. Nhưng nghĩ lại tự an ủi mình nếu mình đi hết rồi mình tự mãn không có gì làm, mình thích đi thêm một lần nữa. Vaishali sẽ là điểm thúc dục mình trở về nếu có dịp tốt trong tương lai.

Xe đến Patna khoảng 9:30 sáng. Tôi mua chuối để ăn trưa và nước uống, vì đa phần khi đi như vậy tôi chỉ có mua được chuối để ăn thay cơm, họ cũng có bán cơm trắng, nhưng tôi cảm thấy khô khan và làm biếng ăn. Ăn chuối thì nhanh gọn và mát cho cơ thể nữa vì thiếu rau tươi. Từ bến xe bus Patna tôi sang xe bus khác đi Harjipure, ở Harjipure mới có tuyến đường xe lửa đi Devaria để đi Kushinaga nơi thành Câu Thi Đức Phật chọn nhập Niết-bàn. Sau hơn nửa giờ chạy (4 Rupi) tôi đến bến xe Harjipure. Từ đây chỉ có con đường xe lửa không có xe bus, nên tôi đành chọn xe lửa ở Ấn, vì lúc đi 1 lần từ Varanashi đến Bodh Gaya tôi phải bị tu "khổ hạnh đứng một chân" và nói không dám đi nữa. Không còn con đường lựa chọn, nên tôi đành liều từ bến xe tôi đi bộ 500m đến ga xe lửa mua vé chỉ có vé bình dân không có vé hạng nhất, khoảng hơn 140 Rupi thì có giường nằm. Nhưng kinh nghiệm cho thấy muốn mua được vé này chỉ đặt mua trước qua đường dây điện thoại tại các khách sạn, lại trả thêm tiền cho họ đem vé tận nơi thêm 50 Rupi nữa tổng chi 1 vé khoảng 190-200 Rupi. Tuy mắc nhưng sẽ không thấy cảnh đứng đội hành lý, đứng một chân khi đi trên xe lửa Ấn Độ, vì toa nào cũng đông đảo người như đi xe lửa tàu chợ ở VN thời kỳ 75 – 85. Toa tàu nằm thì rộng rãi, dễ chịu hơn.

Vé bán lúc đó và có chuyến chạy là 1:30 p.m., tôi ngồi chờ đợi chục phút sau đó tàu đến, vừa leo lên tôi gặp một toa thuận ý, ít chỗ lại có ghế rộng, có giường nằm (sau này bị phạt mới biết), lên tàu cứ thấy chỗ trống là ngồi. Tàu chạy khoảng đến 5:00 chiều thì tôi bị hỏi soát vé thì tôi bị phạt thêm 70 Rupi vì tôi mua vé hạng nhì có 53 Rupi mà ngồi đến toa hạng nhất. Hèn gì tôi cảm thấy chuyến này xe lửa sao ngon quá, không thấy ám ảnh như lần đi xe lửa trước. Phạt xong thì ông hỏi chớ tôi đi đâu, mình nói đi Kushinaga. Thì ổng nói Kushinaga là phải xuống trạm này nếu đã trể thì hãy xuống trạm kế. Tôi không hiểu mình đã đến Devaria chưa? Sao mình có nhờ người bạn tại gần chỗ ngồi nhắc dùm sao họ không nói gì cả? Nghe vậy tôi liền vác ôm đồ chạy bương càng không kể ai trong lúc xe lửa chưa lăn bánh, và tôi nhảy tàu xuống kịp. Và từ ga tôi đi xe đạp 3 bánh đến bến xe (4 Rupi).

Đệ Tứ Động Tâm: Thành Câu-Thi-Na -- Phật Nhập Niết Bàn

Trời chiều gần tối, lại mưa giông bắt đầu đổ...

Trời chiều gần tối, lại mưa giông bắt đầu đổ... Cảnh vật hoàng hôn đồng quê người thưa vắng. Trong lòng tôi hoang mang chơi vơi, hỏi tới hỏi lui thì biết hết xe về Kuhinaga. Tôi kiên trì chờ đợi tìm người hỏi nữa thì may mắn có 1 người dân lạ, ông ta xuất hiện như một vị Bồ Tát cứu giúp tôi trong lúc tứ cố vô thân tại xứ Ấn, ông ta ra dấu chỉ cho tôi phải nên lên chiếc xe này, và ông ta nói gì đó bằng tiếng Phạn ngữ với người tài xế trong lúc tôi bước lên xe. Hành khách trên xe hỏi biết tôi có ý định đi Kushinara họ bảo tôi rằng đã lên sai xe rồi xuống đi, nhưng ông lơ xe tức giận nói với hành khách an tâm để tôi cứ ngồi trên xe. Xe chạy đến hơn 7 giờ tối thì xe toàn chạy trong đường ruộng có tráng nhựa rất nhỏ chỉ đủ lọt một xe chạy quanh co tôi không biết mình đi về đâu hay họ hiểu sai? Trên xe cuối cùng chỉ còn một mình tôi là khách. Xe chạy thêm một đoạn nữa là tới ngã ba, thì tôi thấy đường lớn có nhiều xe chạy, từ lúc gặp con đường này tôi mới an tâm là đúng đường vì biết Kushinara thì phải lớn và nhiều xe chứ. Lúc xe quẹo phải đường này chạy thêm một đoạn khoảng vài km thì xe dừng, ông tài xế biểu tôi xuống ngã ba có một con đường nhỏ chạy vô trong, nơi đây trên con đường này có một tôn tượng Đức Bổn Sư thờ dưới một mái che nhỏ.

Tôi rất hân hoan vui mừng vì cuối cùng tôi cũng đến kịp Kushiraga trong chiều tối này. Nghĩ rằng nhờ xe ông chủ giúp vì tuyến đường của ổng không phải đi Kushinaga nhưng tại nhà ổng ở khu này nên sau khi đổ hết khách xong tôi mới được về đây. Đúng là ông chỉ đường tốt bụng đã nói và chỉ trúng xe cho tôi nên đi, mà chỉ tốn rất ít tiền (16 Rupi). Từ ngã ba này, tôi hỏi đường về chùa Linh Sơn Việt Nam thì được anh bán thuốc tây chỉ, lại còn nhờ người chở giúp vào chùa nữa. Chùa này ở đây họ gọi là chùa China vì Sư Cô Trí Thuận trụ trì, là chùa VN gần nhất từ ngã ba đi vào khoảng 200m nằm bên phải, và có công giữ gìn và tu bổ thêm nên bây giờ được gọi là chùa Linh Sơn China Vietnam Buddhist Temple.

Sau khi tắm rữa giặt dủ xong, chú Phật tử 1 trẻ, 1 già làm công quả đã 5 năm trong chùa dọn mâm cơm với món canh bầu rong biển nấu theo kiểu Việt Nam thật thú vị. Tôi thầm cám ơn Sư Cô có chú đệ tử ngoan khéo biết tiếp đãi khách và lo chu đáo.

Sáng sớm hôm nay, 15 tháng 6, tôi bắt đầu ngày đầu tiên đi chiêm bái nơi Phật nhập Niết-Bàn. Từ chùa ra cổng quẹo trái đi đến nơi Phật nhập Niết-Bàn chỉ có 200m, hai bên có nhiều chùa các nước chạy dài cả gần 2km bên trong còn rất nhiều chùa, tương lai chùa Thái Lan là qui mô nhất vùng này. Cạnh chùa Việt Nam là chùa Miến cũng là khu có 1 chợ nhỏ tấp nập người, trong 3 tháng an cư dân các vùng lân cận về lễ bái các chùa hàng trăm người hằng ngày.

Tôi vào cổng đi theo con đường lát gạch vòng bên phải và bọc lại bên trái thì đến Bảo Tháp là một ngôi nhà hình dài nóc bầu rất lớn và nằm trên một móng xây gạch cao hơn 2m. Vào bên trong tôi lễ bái Phật cầu nguyện và nhiễu quanh Phật, để nhớ lại năm nào Đức Phật từ giả thế gian nhập Niết-Bàn tại nơi đây, các chúng đệ tử nức nở sướt mướt kính thương tiếc đấng Cha Lành trong giờ phút Di Giáo dạy các đệ tử môn đồ lần sau cùng rồi từ từ Ngài viên tịch. Tượng rất đẹp và phước tướng chiều dài đo được 45 gang tay của tôi, gang tay tôi dài hơn 2 tấc chút đỉnh. Trên đầu Ngài có khắc lót một tấm vãi có viền, trên miếng vãi là cái gối có buộc dây quay về hướng tây, hướng mặt của Ngài quay về.

Mặt Ngài tàng chứa vẻ bí ẩn thu hút và đẹp chi lạ với đôi mắt thật sống động, do Đại Đế Asoka (Vua A-Dục) xuống chiếu chỉ cho thợ giỏi khắp nơi về đắp tôn tượng này diễn tả Ngài đủ tướng hảo quang minh dù là biểu lộ lúc Ngài sắp nhập Niết Bàn. Khuôn mặt của Ngài nằm trên bàn tay phải, trong lòng bàn tay có khắc 1 hình bánh xe giống như bánh xe Pháp Luân. Dưới lòng bàn chân phải cũng có cái dấu hiệu này. Hình bánh xe Pháp Luân chỉ có thấy ở nơi bàn tay phải và bàn chân phải.

Ở giữa bục trước nhìn vào nơi Ngài nằm, có khắc tượng vị đệ tử cuối cùng của Ngài đang ngồi tư thế đoan trang xoay lưng ra. Bên trái tượng này là một tín nữ Phật tử, là vợ của vị vua vùng này trong thời gian đó đang chấp tay và có vẻ khóc sướt mướt, quỳ quay về phía Phật và ngài Đệ tử này. Phía phải là khắc tượng của Ngài A-Nan một tay chống càm dựa vào đầu gối với vẻ mặt sầu thương. Sau lưng ở giữa 2 bàn chân Ngài, ngay nhượng của chân có một búp hoa sen.

Nếu quả thật tượng Ngài được khắc như lúc Ngài còn tại thế thì bàn chân có khắc ở 2 bục đá ở Bồ Đề Đạo Tràng là đúng, và với bước chân của Ngài cũng được làm đúng theo khoảng cách các bông sen ở đó cũng đúng. Vì Ngài cao lớn thì khi bước cũng dài ra. Thật là một bậc vĩ nhân của nhân loại cốt tướng phi phàm.

Tôi đi vòng ra phía ngoài của nơi thờ tượng là một bảo tháp hình tròn lớn, tuy không cao và to bằng ở nơi Vườn Lộc Uyễn, đã được xây tráng xi măng bên ngoài lại, bên trong có thờ Xá Lợi của Đức Phật. Tôi đi nhiễu và lễ lạy xong đi ra phía trước lại, tự nhiên tôi cảm thấy muốn nằm, với gió hiu hiu trên một nền lót đá vân như ở Đá Non Nước tôi nằm theo thế kiết tường và đi vào thiền định một khoảng thời gian ngắn thật là những giây phút an lạc tuyệt vời không diễn tả được. Tiếp đến tôi xuống đến tầng cấp bước lên các vết tích nền gạch của chùa nay đã đổi thay hư hại, tôi lại nằm trong tư thế ngọa thiền, nếu nhân duyên đã tròn đủ, tôi ra đi trong giây phút này tại mãnh đất thánh địa xứ Phật quả thật là mãn nguyện cho tôi nương về cảnh giới Niết Bàn của chư Phật.

Ông Thuần Đà Người Tín Chủ Cúng Dường Ba Ngọ Trai Cho Phật Sau Cùng

Sau khi được pháp vị an lạc khỏe khoắn và khinh an dễ chịu, tôi ra về. Về chùa Linh Sơn, tôi đang nằm nghỉ trưa thì có một Sư Bohdi Ratna vào thăm, Sư là chủ tịch của Hội Xã Hội Phật Giáo Thế Giới tại Kushinaga. Biết tôi mới đến Sư mời tôi nên đi thăm nơi nhà ông Thuần Đà năm xưa, người cúng dường bữa cơm ngọ sau cùng cho Phật trước lúc Ngài vào Đại Niết Bàn. Tôi đồng ý, và Sư chở tôi bằng xe Lambetta 2 bánh loại cũ và thường thấy dùng ở Ấn, chạy khoảng 17km thì tới nơi một cái cỗng có đề bảng và từ đây vào bên trong khoảng 500m là hết đường có một chùa đang xây cất. Dừng xe, chúng tôi tẽ vào và đi đường ruộng về hướng khu nhà trưởng giả Thuận Đà.

Ông Thuần Đà là một trưởng giả vùng này, một vùng có rất nhiều cây xoài thời đó và thời nay các cây xoài con vẫn tiếp nối nhưng thưa hơn. Sau khi biết Đức Phật và Tăng đoàn gần 400 vị đi theo, dừng chân trong khu vườn xoài để nghỉ chân cách nhà ông khoảng 50m lúc trưa này là dịp tốt ông cúng dường và thỉnh ý Đức Phật, ngài bằng lòng và đến nhà ông để độ ngọ, ông không ngờ rằng bữa cơm này của ông là bữa cơm mà Đức Phật thọ dụng sau cùng trên thế gian này, mà ông cũng rất là may mắn được là người sau cùng cúng dường cho Phật trước lúc Phật Nhập Niết Bàn.

Nơi Đấng Cha Lành Thế Tôn Thị Hiện Uống Nước Lần Sau Cùng

Dùng cơm xong, Đức Phật cùng tăng đoàn hướng về phía tây nơi đó là Kushinaga mà chiều hôm đó Đức Phật Ngài dừng chân. Trên đường đi Ngài khát nước nên sai thị giả A-Nan xuống bờ sông lúc đi ngang cách nhà ông Thuận Đà khoảng 6km, A-Nan vâng lời, nhưng xuống thấy nước sông quá dơ, A-Nan trở lên nói: “Bạch Đức Thế Tôn, nước quá xấu không thể uống được.” Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Con cứ xuống múc đi cho ta, ta sẽ dùng được.” A-Nan xuống lại múc lên thì lần này nước trong veo thơm tho. Đó là một sự mầu nhiệm mà câu chuyện truyền cho đến ngày nay, Đại Đức Ratna đã kể cho tôi nghe khi chúng tôi đứng bên cạnh dòng nước này và tưởng nhớ đến Đức Phật.

Đại Đức Ratna chỉ cho tôi ngay nền nhà của ông Thuần Đà (tiếng Ấn Độ Đại Đức phát âm như chữ Việt Nam là “Chuần Đà"). Tôi đã đến chụp hình nơi miếng đất và thử các miếng gạch còn xót lại bởi thời gian tàn phá, miếng đất bây giờ rất nhỏ có vài cây xanh lớn, còn chung quanh bây giờ họ cắt xén lần để làm ruộng, chỉ chừa miếng nhỏ nơi di tích này để hoang dã điêu tàn, may thay là không có ai làm nhà hay cày bừa làm mất dấu tích miếng đất lịch sử này.

Hiện nay tại chỗ di tích lịch sử này có dựng tấm bảng của sở khảo cổ học Ấn Độ, và có ghi các điều ngăn cấm sự phá hại và hình phạt. Đến nay chưa nước nào đầu tư tiền vào để tu sửa miếng đất này thật là thương tiếc! Sau khi chụp hình làm lưu ký tôi về lại khu Phật nhập Niết Bàn. Đại Đức này giới thiệu cho tôi biết từ đây đến nơi “Phật uống nước sau cùng” khi Ngài dừng chân nghỉ nơi đây từ nhà ông Thuần Đà đến chỗ này khoảng dưới 100m, chúng tôi đến đây lễ bái thì thấy một cái nhà tường dày kiên cố có các cửa song sắt chắc chắn, nhìn vào thì tôi thấy chân dung tượng Ngài đang ngồi tư thế thuyết giảng, cánh tay trái đã bị đạo Hồi Giáo chặt gãy đi. Chung quanh trước mặt cũng có nhiều vết tích các nền móng gạch chùa tháp xưa đã bị tàn phá. Và tôi đi quay phim trở lại từ lúc Ngài dừng uống nước đến nơi Ngài viên tịch.


Cổ Tháp Đánh Dấu Nơi Vô Cùng Long Trọng Trang Nghiêm Cử Hành Đại Lễ Trà Tỳ (Hỏa Thiêu)

Tiếp theo, tôi được Đại Đức hướng dẫn đi về phía Đông hướng nhà ông Thuận Đà hơn 1km, là một nơi cổ tháp toàn bằng gạch đỏ cao lớn rộng như một lò nung sành sứ thật lớn ở Biên Hòa, Việt Nam, nơi đánh dấu Đức Phật được làm lễ Trà Tỳ hỏa táng Pháp thân của Ngài, sau đó chia ra 8 nước ở Ấn Độ chung quanh thời đó đây là một trong 8 nơi thờ Xá Lợi Đức Phật chu vi rất lớn. Một chỗ nữa mà tôi cũng được Đại Đức chở đi khi rời nơi nhà ông Thuận Đà ra cổng chính chúng tôi quẹo phải đi xa thêm 2km nữa thì bên phải là một khu chợ trong đó có 1 cái tháp bị tàn phá hoàn toàn, chỉ còn là mô đất cao mà thôi nơi đây cũng là 1 trong 8 nước đem Xá Lợi Phật về thờ. Nay cũng được chính quyền Ấn rào bảo vệ, nhưng không được người quét dọn nên rác họ đổ chung quanh rất nhiều, nếu mà chúng ta có thì giờ và tiền bạc đi xây dựng và quét dọn thì hay biết mấy (lúc đó tôi nghĩ Thầy Thành, người sư huynh quý kính của tôi, mà về nơi đây chắc động lòng đau đớn lắm, và nhất định Thầy sẽ phát nguyện tu sửa trang nghiêm lại như hạnh nguyện của Ngài đang trùng tu các cổ tháp tại Việt Nam).

Trời về chiều, tôi còn được Đại Đức hướng dẫn đi xem 1 dòng sông nhỏ khi xưa nó nằm sát nơi chỗ Phật Trà Tỳ, nay thời gian làm nó đổi thay và dời xa cách đó thêm 50m đúng là vật đổi sao dời. Trong lòng tôi suy nghĩ sự hiện diện của vị Đại Đức này đối với tôi thật là một cơ duyên quý hiếm khi tôi chiêm bái nơi đây, Ngài mang tôi đi chỉ cặn kẻ từng nơi, từng thánh tích lịch sử, và từng câu chuyện xưa liên quan, nên tôi lại nghĩ không lẽ vị Đại Đức này Ngài đã sinh vào thời Đức Phật Thích Ca, và tái sinh trở lại để chỉ cho tôi mục kiến và ghi hết những chi tiết sống động như sợ chúng sanh sau này không biết đến hoặc đã quên mất vậy. Nhờ Đại Đức tôi được biết thêm nhiều chi tiết và quay nhiều đoạn phim mà tôi tin là các phái đoàn khác không có, tất cả đều nhờ sự gia hộ hướng dẫn sắp đặt mầu nhiệm của Tam Bảo.

Đây là một giấc mơ rất là kỳ lạ mà tôi quên kể trong thời gian lưu lại nơi đây. Ngày thứ nhất sau khi đến chùa Linh Sơn China Vietnam Buddhist Temple, tức ngày 15 tháng 6, 1996 (30 tháng 4 Âm Lịch), sau khi đi lễ Phật về, khoảng 9:00 a.m., bổng nhiên có một Đại Đức đến chùa xin gặp tôi và tình nguyện đưa tôi đi chiêm bái nơi đoạn từ lúc Đức Phật dừng chân tại nhà trưởng giả Thuần Đà thọ bữa Ngọ cuối cùng cách đây 17 cây số. Sau khi về lại chùa, tôi nằm nghỉ trưa trong phòng tầng dưới thứ nhất tính từ chánh điện đi tới bên trái (trước phòng tấm bản nhỏ đề do Thượng Tọa Thích Ngộ Nguyên ở Calcutta hỷ cúng) thì tôi đã nằm mộng trong lúc nửa tỉnh nửa mơ tôi bắt gặp một vị tăng trong căn phòng của tôi, tôi mới lấy làm lạ liền hỏi Thầy đi vào phòng bằng lối nào. Vị này đáp, tôi đi vào cửa chánh phòng này. Tôi liền nghĩ cửa phòng mình khoá chặt tại sao Thầy này có thể vào được, chỉ có tàng hình xuyên qua vách mà thôi, vừa nghĩ đến đây, vị sư đứng tuổi nước da ngâm đen này liền như đoán biết tư tưởng tôi vội đưa ngón tay lên miệng và bảo tôi rằng: xin đừng kể cho ai nghe về chuyện này tôi chỉ đến thăm.

Tôi giật mình tỉnh mộng và cảm thấy trong lòng vui phơi phới hân hoan vô cùng lúc đó nhìn đồng hồ thì là 4:10 phút chiều. Tôi vội đi ra bên ngoài xem thử có Đại Đức người Ấn mà tôi hẹn chiều nay đến chở tôi đi tiếp chiêm bái nơi Đức Phật theo như dự định lúc sáng là thăm nơi Đức Phật dừng bước nơi Kushinagar nơi Phật uống lần nước cuối cùng, và nơi Đức Phật được làm lễ Trà Tỳ sau khi viên tịch và thâu lấy Xá Lợi. Vừa lúc đó Đại Đức người Ấn Độ với nước da ngâm đen cũng vừa đến rước tôi, trong lòng tôi thầm cảm niệm ân đức Phật đã linh thiêng mầu nhiệm. Giấc mộng này như báo cho tôi hay là lúc nào Phật cũng thầm hộ niệm cho tôi gặp nhiều trợ duyên quý giá trên con đường chiêm bái thỉnh Đại Tạng Kinh, và Ngài đã và đang hướng dẫn cho tôi kính viếng các nơi in dấu chân của Ngài khi tôi vô cùng khát ngưỡng muốn trở về kính viếng “quê Cha” Đấng Cha Lành Thích Ca Mâu-Ni. Nam mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật.

Lúc chiêm bái xong về chùa, tôi vui miệng buộc hỏi người Phật tử công quả ở đây có vị Sư nào hay tới lui đây không, thì tôi rùng mình vì lỡ miệng nói mình có gặp một vị Thánh tăng A la Hán trong chùa này. Đây là 1 giấc mộng hiền trong đời tu của tôi, và nó đã xãy ra trong mãnh đất Phật khi tôi về đây chiêm bái để hoàn thành ước nguyện. Thế mới biết rằng chư Bồ Tát, A la Hán, Thánh Tăng vẫn còn lui tới và thầm tu học chung với phàm tăng để hộ trì Phật Pháp mà chúng ta không biết. Nếu tâm chúng ta còn phân biệt các vị tăng trong đời này thì dễ vô tình chúng ta làm nên tội đối với một vị nhục thân Bồ Tát hay hóa thân của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni mà chúng ta không biết, thì kết quả tội báo lớn vô cùng.

Đây là một điều quan trọng mà tôi muốn đặc biệt chia sẻ và có lời khuyên đối với các huynh đệ người con Phật ở đời tương lai là nên cẩn trọng và nên biết trân qúy khi tiếp duyên với từng bất cứ ai, từ người nghèo ăn xin đến hạng Tăng sĩ chúng ta sẽ gặp trên con đường phát nguyện hành hương và chiêm bái các nơi Động Tâm ở xứ Phật Thánh Địa. Hãy phát tâm Bồ Đề, khao khát, phát nguyện để về chiêm bái, đừng ngã mạn tự cao, chê khen, chờ đợi ... vì là vô thường, và xin đừng bao giờ mang tâm niệm đi du lịch thăm quan cho biết Thánh Địa, hoặc không có đại Bồ Đề tâm thì chuyến đi sẽ không có lợi ích gì về cho tâm linh và cũng không cảm nhận được Pháp lạc mầu nhiệm nơi Thánh Địa xứ Phật.

Giấc mơ này là món quà tinh thần đặc biệt đã khích lệ rất lớn trong chuyến hành hương về xứ Phật nói riêng, và cho cuộc đời và sự nghiệp trí tuệ của tôi sau này nói chung. Thành kính cảm niệm ân đức vị Bồ Tát nào đó đã thầm gia hộ chứng minh cho tấm lòng khát khao về xứ Phật của con lần này trong mùa an cư Phật Lịch 2540.

Sáng nay ngày 17 tháng 6 năm 1996, đã là ngày thứ ba, sau 3 đêm ở tại Kushinaga, tôi đi lễ phật như thường lệ và dâng lễ cầu nguyện. Buổi chiều thì lễ nơi Phật Trà Tỳ, ngồi thiền chiêm bái. Sau đó về chuẩn bị hành trang ngày mai sẽ lên đường sớm về lại Nepal vì vé máy bay khứ hồi đi từ nước Nepal.

Trở Lại Vườn Lâm-Tỳ-Ni Lần Thứ II

Hôm nay, ngày 18 tháng 6, tôi sẽ đón xe bus từ nơi Phật Nhập Niết Bàn về Goakhpur (53km), 7:30 tôi đến thì vừa kịp lúc xe đạp 3 bánh đưa tôi đến bến xe bus đang chuẩn bị khởi hành. 11:30 tôi đến biên giới Ấn và Nepal. Sau khi hoàn tất thủ tục biên giới hai nước, tôi đi xe bus loại nhỏ từ thành phố này nằm sát biên giới của Nepal về nơi trung tâm thành phố, khoảng 4km. Còn bến xe bus đổ tôi xuống bên biên giới Ấn, tôi không cần đón xe bus mà chỉ đi bộ dưới 1km là tới biên phòng của Ấn xét thủ tục làm giấy ra, tôi cho 100 Rupi, họ mừng và nhiệt tình lắm, tôi nghĩ cho họ 50 Rupi cũng được, vì tôi lầm tưởng qua biên giới là phải đóng tiền, biên giới đường bộ khỏi phải tốn tiền khi “đi ra” gì cả không phải như đi máy bay ra khỏi nước là phải đóng tiền sân bay.

Từ Bhairhawa tôi cũng đi xe bus 2km đến ngã ba Lumbini để đi xe bus Lumbini nhanh hơn thay vì ngồi chờ ở trung tâm của thành phố này cũng có xe bus về ngang Lumbini. Tôi quyết định ghé Lumbini vì nhiều điều: thứ nhất việc quan trọng là tôi phải gởi 3 “nấm đất Phật” liền cho đủ 4 nắm đất 4 nơi Động Tâm, nhờ anh Quán Chương đem về Việt Nam; thứ 2 là lễ tạ ơn Phật tại vườn Lâm Tỳ Ni, nơi xuất phát để đi chiêm lễ ba nơi khác trong tình huống khó khăn xin Visa; thứ ba tôi để quên chuỗi tràng 108 hạt nên phải lấy; sau cùng từ đây vô Lumbini cũng gần và để nghỉ cho khỏe.

Tôi mua 1 trái dưa hấu, đem vô dâng lễ Đức Phật nơi trụ đá Vua A-Dục lúc 3 p.m, xong vào chùa Việt Nam nghỉ ngơi, Thầy Diệu gặp lại tôi rất mừng. Tắm rữa xong tôi đi qua bên Linh Sơn Tự thăm Sư cô Trí Thuận khoảng cách không xa, Sư cô đi xe hơi vừa từ Ấn Độ qua quản đốc công trình xây chùa Linh Sơn tại Nepal, một Sư cô Việt Nam thật giỏi đệ tử của Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Vi. Sau khi nói chuyện thăm hỏi sức khỏe và Phật sự với Sư cô thì tôi được biết bác tài xế Phật tử của Chùa sanh quán ở Kopara nơi mà tôi đang nhìn từ đây về hướng bắc nơi rặng Hy Mã Lạp Sơn. Tự nhiên hôm nay trước đó lúc chiều 5 giờ, những tia nắng vàng đang còn mãi mê quấn quít với trời xanh, chàng núi Hy Mã Lạp Sơn hiện lên càng rõ nét từng nét đẹp hùng vĩ, bí ẩn, và quyến rủ như mời gọi tôi một chuyến vân du đến thăm rặng núi có đỉnh cao nhất thế giới được cái tên gọi thân thương là “mái nhà của thế giới”.

Đây là lần đầu tiên làm cho tôi thêm phấn khởi thúc đẩy ý định của tôi đi về thăm dãy Hy Mã Lạp Sơn một chuyến, cộng thêm duyên lành sự chỉ dẫn và sự phát nguyện của bác tài xế, với sự đồng ý nhiệt tình của Sư Cô sẽ cho bác tài lái chiếc xe hơi mới toanh của chùa vừa mua để đi làm Phật sự chạy từ nơi Phật Niết Bàn về Vườn Lâm Tỳ Ni mỗi tuần. Ông Phật tử tài xế của Sư cô Trí Thuận đưa tôi ra lại nơi trung tâm thành Phố cách vườn Lumbini 22km, để tôi có thể đón kịp chuyến xe bus đầu tiên đi Kopara.


Trên Dãy Hy Mã Lạp Sơn

Ngày 19 tháng 6, xe bus khởi hành lúc 5:30 sáng, chạy cứ lên độ cao mãi về đường núi hiểm trở cho đến 3:30 thì tôi đến nơi, đến đây làm tôi hơi không vui vì bầu trời đang bị mây đen bao phủ. Tôi đi bộ từ bến xe về trung tâm thành phố khoảng vài trăm mét hướng Tây. Tìm một khách sạn tên Palace cũng gần nơi đây có 100 Rupi, nói chung khách sạn ở đây rẽ hơn Kathmandu, nhưng nước lại mắc hơn. Xong đâu đó tôi theo sự mách bảo có một cái hồ tên Fewa là đẹp nhất nơi đây nên tôi tranh thủ đi liền cho kịp để an ủi bù lại xem dãy Hy Mã Lạp Sơn hôm nay trời đầy mây không thấy gì cả, mặc dù rất gần nhìn từ thành phố Kopara này.

Sau 4km share Taxi với người khác tôi trả chỉ 10 Rupi, đến đây thì trời lại trong, về chiều tôi lại nhìn thấy ngọn Hy Mã cao ngất trời đầy tuyết với ánh nắng rọi lên làm nổi bật sự hùng vĩ của nó. Từ mặt hồ tôi mướn một chiếc xuồng nhỏ một giờ 100 Rupi, hơi mắc so với 20 Rupi ở Sông Hằng, tôi bơi giữa hồ xanh rộng với núi bao quanh và trên ngọn có ngôi chùa nhìn thấy của Phật Giáo Tây Tạng nằm cheo leo bí ẩn, và tôi ngắm cảnh núi tuyết càng thêm đẹp, khu này gần bờ hồ vì thế có nhiều khách sạn và sân thể thao, chứng tỏ rất nhiều du khách đến viếng, tôi cũng thấy nhiều khách ngoại quốc bơi thuyền và tắm giữa hồ này. Tôi về khách sạn nghỉ ngơi vì ngày mai sẽ về Kathmadu sớm, tôi đã mua vé tại đây trước (130 Rupi).

Sáng hôm nay 20 tháng 6, sau khi tôi chiêm ngưỡng và ngồi thiền tại nơi nóc khách sạn để ngắm cảnh mặt trời mọc, trời trong làm lộ toàn bộ cảnh dãy Hy Mã Lạp Sơn đẹp hơn bao giờ hết. Nơi đây, một ngọn núi tuyết nhọn, cao hơn 7 ngàn feet được bảo vệ độc nhất bởi chính quyền là không để cho một vết chân của con người nào đạp lên để còn giá trị thanh tịnh nguyên thủy cho ngọn này, còn ngoài ra các ngọn khác đều có vết chân kể cả ngọn Everest cao nhất thế giới. Buổi sáng nay và chiều hôm qua, thời tiết đã ưu đãi tôi như một vị khách đặc biệt vì dân ở vùng này nói rất hiếm khi có được 1 ngày trời trong như vậy vào mùa hè đang mưa này. Xe bus đến khách sạn rước tôi vào lúc 7:20, khi xe chạy ra khỏi thành phố nằm trong thung lũng này tôi muốn thu hết những cảnh vật vào trí nhớ của tôi vì tôi sẽ hết có dịp ngắm lần nữa những rặng núi này. Hình như những rặng núi biết tôi từ xa đến và chợt đi nên hiện ra nói lời tạm biệt đến khi xe chạy mãi xuống đèo mới mất đi trong tầm nhìn của tôi.

Ở Kopora tôi nhìn thấy từ xa có hai nhánh sông nước chảy mạnh, 1 trắng và 1 màu xám đục hai nhánh gặp nhau ở hạ lưu và chảy hợp thành con sông chính gọi là sông Hằng. Cát ở sông Hằng rất trong trắng, mà tôi quên lấy một nắm cát, vì nơi đây cát lẫn lộn với bao nhiêu Xá Lợi của các vị thánh tăng sau khi thiêu đốt hoả táng đều rãi xuống lòng sông này. Và quên lấy đi một chai nước vì nước nơi đây rất là đặc biệt để ngàn năm không hư và đóng nhờn như các con sông khác ở trên thế giới, bởi thế người dân Ấn mới không bị bệnh mặc dầu họ bỏ xác người, xác bò mà vẫn uống và tắm như một nước linh thiêng. Tôi cũng quên một điều là vì không biết tiếng Phạn cho nên tôi đã không tới được Xá Vệ Quốc nơi Đức Phật an cư 27 lần, nơi có vườn ông Cấp Cô Độc gần nơi tại biên giới Ấn khoảng 100km, nếu tôi biết là đã thuê taxi đi và ở lại chiều đêm đó sáng về lại biên giới, chỉ trả 1000 Rupi Ấn (= 30 US). Tôi lại hẹn một duyên khác khi ngang biên giới phải nhớ về nơi đây một lần để chiêm bái.

Xe chạy suốt chỉ ngừng 3 lần để ăn điểm tâm, trưa, và giải khát. Vì kẹt xe khi làm cầu nên tôi tới Kathmandu lúc 4:00 chiều. Tìm khách sạn nghỉ ngơi để ngày mai tới Air Thái điều đình vé đi về Thái sớm hơn dự định khoảng 3 đến 4 ngày, vì ngày đi chính là 26 mà ngày mai 21, nếu hên có chuyến bay thì tôi sẽ rời ngày 22 về lại Thái Lan thăm được nhiều ngày hơn vì tôi đã coi như không còn chương trình gì khác tại Kathmandu cho những ngày dư còn lại.

Tóm lại Đường về Xứ Phật đến ngày hôm nay trở lại Kathmandu coi như đã hoàn thành một cách an lành và mầu nhiệm.

Trên Đường Từ Thiên Trúc Về Đi Đông Độ Thỉnh Kinh Ghé Nước Thailand

Sáng nay 22/6/96, tôi đi mua sắm một ít đồ lưu niệm tại Kathmandu, đến 11:00 a.m. tôi rời khách sạn ra phi trường. 1:30 p.m. máy bay cất cánh và đến 6:00 p.m. máy bay đáp xuống Thái Lan (giờ địa phương). Sau khi thủ tục nhập cảnh rất nhanh tôi đổi 50 US tiền Thái để xài. Tôi ra hỏi và lấy xe bus trước phi trường về Chinatown 70 Bath khoảng 25km. Trải qua 3 – 4 chùa Tàu nhưng là người Thái tu theo Phật Giáo Nguyên Thủy nên thấy tôi y phục theo Phật Giáo Đại Thừa khác lạ nên họ không mấy gì niềm nở cảm tình. Không biết cách giáo dục cư sĩ của các vị sư nguyên thủy Phật Giáo như thế nào, chứ riêng Phật tử của quý thầy Phật Giáo Bắc Tông (Đại Thừa) như chúng tôi giáo dục rất kỷ lưỡng lúc Phật tử bắt mới đầu quy-y Tam Bảo. Chúng tôi dạy họ phải chấp tay xá chào cung kính tất cả chư Tăng, cho dù là Tăng chùa nào, xứ nào, nước nào đều cũng là Tăng Bảo, không vì phân biệt chủng tộc, màu da, hay lối y phục theo địa phương hàng cư sĩ cũng phải đều cung kính đảnh lễ cúng dường bình đẳng vậy, tâm bình đẳng là tâm Phật.

May nhờ những người Phật tử người Tàu của các chùa này chở đi chùa này chùa nọ, cuối cùng tôi đã gặp được một chùa Cam Lộ ở số 119 Dhibhaya Vari Lane, Ban Moh, Bangkok welcome tôi lúc đó là 11:30 p.m., tôi được 1 em Phật tử tập sự tu nhường phòng ngủ qua đêm. Sở dĩ đi tới đâu tôi cũng muốn tìm chùa để xin trú nghỉ bởi vì tôi phát nguyện đi hành hương chiêm bái nên gặp chùa thì lễ, gặp Tăng thì kết duyên Bồ-Đề. Hơn nữa tôi muốn sống lăn lóc trà trộn vào cuộc sống thật của họ để tìm hiểu và học hỏi thêm sự sinh hoạt tu tập của họ tại địa phương nơi tôi đang đến. Bất đắc dĩ lắm hoặc nơi không có chùa thì tôi mới đành tìm đến nhà trọ nghỉ qua đêm. Nhờ vậy mà tôi kháp phá ra nhiều điều thú vị trong chuyến đi chiêm bái mầu nhiệm linh thiêng này.

Sáng nay 23/6, tôi được 1 người Phật tử chùa Cam Lộ thiện nguyện chở tôi đi thăm 1 chùa Thái. Ở đây tôi quen biết được 2 vị tăng trẻ nói tiếng Anh rất rành, qua câu chuyện họ hiểu về tôi rất nhiều, về người tăng sĩ Mỹ và rất cảm thông, trước đó họ nghe tôi kể họ rất ngạc nhiên. Họ cho tôi hay rằng tôi là 1 người Tăng sĩ Bắc Tông Việt Nam, người từ Mỹ đầu tiên hữu duyên ghé đến kính viếng chùa này tên Bhudha Monthol.

Đúng 2 giờ p.m., người Phật tử Tàu tốt bụng trở lại đưa tôi đi thăm một cái park ở xa thủ đô và rất rộng, rộng gấp 4 – 6 lần sở thú Việt Nam, nó thuộc công viên của Phật Giáo nơi đây có 1 tượng Đức Phật Ngài đang tư thế đi rất là thanh thoát cao khoảng 20m, trong khu này tôi được đi thăm một tác phẩm của Phật Giáo Thái là khắc bộ Tạng Kinh bằng chữ Thái vào những bia đá rất đẹp, xếp theo thứ tự trong một ngôi chùa khổng lồ chưa hoàn tất nằm cạnh một cái hồ. Trên nóc bên trong khắc hoa những bức hình rất đẹp về cuộc đời Đức Phật. Tác phẩm này có tầm vóc giá trị văn hóa và nghệ thuật của Phật Giáo. Tôi được may mắn là người tu sĩ Việt Nam đầu tiên đến thăm nơi này.

Bên trái tượng Phật có 1 ngôi chùa lớn làm nơi trung tâm lễ lớn hay hội nghị cho Phật Giáo, cạnh bên trái chùa này đang xây thêm 1 ngôi chùa đồ sộ tương tự, hướng bên phải xa xa còn xây thêm 1 ngôi nữa. Khu này bãi cỏ đẹp đang phát triển tốt đẹp xứng đáng là 1 trung tâm Phật Giáo có tầm quốc tế. Bên phải bức tượng nhìn ra, thì có 2 ngôi chùa đẹp làm nơi nghỉ cho khách Tăng quốc tế về. Rải rác trong khu công viên lớn này còn có rất nhiều đài kỷ niệm các hình tượng tượng trưng cho Đức Phật. Đặc biệt đâu đâu họ cũng phô trương hình tượng đức vua Thái Lan.

Khi về thì trời đã tối, người Phật tử này chở tôi qua khu chính của thủ đô nơi hội họp của đức vua và tiếp khách quốc tế, khung cảnh thật tuyệt đẹp không thua gì Las Vegas của Mỹ, cả 1 khu phố đường dài nhiều km cứ xa xa là một cái cổng trang hoàng những đèn màu và hình tượng rực rỡ sáng huy hoàng, hai bên đường đẹp nhờ 2 hàng cây thấp lá rũ treo đầy đèn tưởng như cây lưu ly, ôi! thật tuyệt đẹp đất nước Hoàng Gia Thái. Xe hơi và người đi bộ ngắm cảnh tấp nập, nhưng họ không ăn diện lắm.

Đây là dịp may của tôi đến Thái vào đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày đức vua lên ngôi trong tháng này nên tôi được thấy như vậy, là một năm kỷ niệm đặc biệt hơn những năm trước rất nhiều. Đất nước Thái có những Freeway tốt như Mỹ nhưng chỉ có 3 lanes nhiều xe hơi mới và đẹp, và đang xây những Freeway trên không như ở Los Angeles thật vĩ đại. Nhìn khung cảnh giống California khoảng 60-70% bên ngoài, còn bên trong cuộc sống nhà ở dân chúng tiêu chuẩn và tiện nghi căn bản còn thấp hơn Mỹ, hai bên đường đầy các quán ăn như ở Sài Gòn, nhìn cảnh này tôi lại muốn đáp máy bay về Sài Gòn ngay vì nhớ quê hương nơi có bao kỷ niệm vui buồn, người cha già, thầy tổ, huynh đệ, và Phật tử mà tôi không bao giờ quên.

Sáng này 24/6, tôi bị cảm, mệt nên nằm ở chùa ngủ vùi, tới trưa tôi mới tỉnh lại và khoẻ hơn nhờ các viên thuốc cảm và sổ mũi. Buổi chiều, tôi dạo ra phố một vòng cho khuây khoả. Xe cộ chen chúc nhả ra nhiều khói xăng dầu làm không khí nặng nề vì không có luật lệ môi trường nghiêm khắc nên không khí ô nhiễm rất cao so với không khí ở bang California, nhưng việc làm ăn buôn bán ở đây có vẻ dễ dàng và phát đạt.

Sáng 25/6/1996 tôi lấy xe bus đi thăm Hoàng cung có rất nhiều kiến trúc chùa rất nguy nga và nhiều tượng, hình. Các du khách tới Thái đều đến đây để tham quan, thật là một cung điện cao sang có ý nghĩa Phật Giáo đáng hàng giá trị hơn các nước Á châu trong vùng, vì là một nước Phật Giáo lâu đời 92% là đạo Phật, truyền từ đời vua thời trung đại đến cận đại là đời Vua thứ 9 đều sùng Phật Giáo.

Sáng 26/6/1996, tôi đến thăm 1 ngôi chùa tên Phổ Phước là chùa Việt Nam, đến đời thầy Hoà Thượng trụ trì đây là Thầy Cảnh Chiếu, đệ tử sau cùng là người Triều Châu nhưng nói tiếng Việt Nam rất rành. Ngài rất đạo cao đức trọng được vua ban chức hiện tại, Ngài cai quản một ngôi chùa Việt Nam khác tên là Hội Khánh nơi mà Thầy Hoà Thượng trụ trì Việt Nam đã tịch 2 năm không người kế vị, chùa khang trang hiện có hơn 20 đệ tử người Thái đang tu học tại đây. Còn chùa Phổ Phước có hơn 100 đệ tử, các chú ấy tụng kinh Đại Thừa bằng âm Việt Nam phiên từ chữ Thái, đọc nghe ngộ ngộ vài âm trại đi từ chữ Việt. Các chú sáng khất thực ăn mặn theo Sư Thái, y áo và pháp tu thì theo Đại Thừa nhưng y phục sinh hoạt hằng ngày cũng toàn màu vàng như phái khất sĩ tại Việt Nam.

Hoà Thượng phương trượng chùa Phổ Phước rất cần 1 vị thầy Bắc Tông từ Việt Nam qua để phụ Hoà Thượng và kế thừa vì người Thái đa phần tu gieo duyên 3 năm theo phong tục và sau đó mới hoàn tục lập gia thất. Hòa Thượng nói vị giáo thọ đó sẽ có lương như Ngài. Chư Tăng có chức sự ở Thái đều được Vua Thái ban cung cấp cúng dường bổng lộc triều đình hằng tháng, tuy số tiền có ít nhưng đó là một sự thể hiện quý kính chư Tăng của chánh quyền. Hòa Thượng nói như vậy.

Tôi rất phục Hoà Thượng vì Ngài đã theo gương Thầy Tổ người Việt dạy các đệ tử bằng phong thái Phật Giáo Việt Nam mặc dù Hoà Thượng có thể dạy tiếng Tàu vì thầy gốc Tàu. Hoà Thượng đã về Việt Nam thăm 2 lần, gần đây nhất cách nay 7 tháng. Tuy xuất gia tại Thái nhưng rất có đạo tình với Phật Giáo Việt. Thầy nói người Việt ít hộ đạo hơn người Tàu, nếu có hộ thì hộ cho chùa Thái để lấy tiếng. Ngài tâm sự với tôi thân tình như vậy. Thật đau lòng! Ngài bây giờ tuổi hơn 70 nhưng vẫn con chăm lo cho thế hệ mai sau nên đang xây 1 ngôi nhà 7 tầng làm trường và phòng xá rất lớn. Công trình xây dựng tu viện này được Vua Thái cúng dường đóng góp 1080,000 Bat.

Ăn cơm trưa tại chùa Hội Khánh xong, Thầy mời tôi lên chánh điện ngồi bên tay phải ngang cùng Hoà Thượng để có đôi lời chỉ dạy cho các thầy, các chú tu học. Tôi giảng bằng tiếng Anh hùng hồn như một người professor giảng sư với tư tưởng Bồ Tát thừa dưới thời Lý Trần tại Việt Nam để các chú nắm bắt tư tưởng này thực hành cho Phật Pháp xứ Thái Lan, không biết sao mà tôi giảng bằng tiếng Anh ào ào như vậy mặt dù qua Mỹ chỉ mới có 2 năm. Có một chú sa di hiểu ý từng câu Phật Pháp của tôi và giảng dịch lại cho các chú sa di khác. Nhìn nét mặt chăm chú và rất hoan hỷ lắng nghe tôi giảng tiếp nhiều đề mục khác. Tôi nói về giá trị của người tu và tương lai Phật Giáo Thái cùng vai trò người tu sĩ Thái. Họ rất phấn khởi và hứng thú. Tôi rất vui khi làm được một chuyện nhỏ nhỏ cho các chú, vì các chú ở đây rất dễ thương, thuần thục, và lễ phép.


Thầy Tuệ Uy đang Pháp thoại bằng tiếng Anh, hùng hồn như một người professor giảng sư với đề tài tư tưởng Bồ Tát thừa dưới thời Lý Trần tại Việt Nam nhằm trang bị cho các chú tư tưởng Bồ Tát Hạnh cho tương lai  Phật Pháp xứ sở Thái Lan


Buổi chiều Hoà Thượng cử 2 chú trong chúng đưa tôi đi thăm chùa Phật bằng vàng. Tôi đã đến kính lễ cúng dường Đức Phật và lời nguyện cầu cho Phật Pháp. Tượng Phật bằng vàng khối được đúc bằng nhiều tấn vàng rất to và đẹp được thờ trang nghiêm trong một ngôi chùa có nhiều du khách thăm.

Sáng nay, 27/6/96, tôi từ giả Cam Lộ Tự để đến chùa Phổ Phước theo lời mời của Hoà Thượng trụ trì dùng bữa cơm trưa tạm biệt. Hôm nay, đặc biệt rất ngẫu nhiên chùa có tổ chức một buổi lễ trai tăng rất lớn mời 10 vị trụ trì các chùa thuộc chi nhánh Dòng Phái Việt Nam. Tôi rất lấy làm thích thú khi được nghe lời kinh tiếng Việt Nam thốt ra từ miệng của những vị Tăng sĩ người Thái này.

Trong buổi lễ trai tăng, họ tụng Lăng Nghiêm Thập Chú, bái cúng dường, hồi hướng bằng chữ Việt Nam, nhưng họ không biết nói một tiếng Việt, chứng tỏ Phật Giáo Việt Nam cũng có ảnh hưởng mạnh và phát triển đặc biệt tại đất Thái giống như Phật Giáo Trung Hoa phát triển tại Việt Nam thời xưa.

Họ đắp y móc, đọc kinh theo nghi thức tụng niệm Việt Nam là chính, vì Thấy Tổ của họ là quý cao Tăng người Việt Nam có thể qua đây hoằng pháp từ hàng trăm năm trước. Tôi rất thích thú và hạnh phúc khi chứng minh dự một cuộc lễ có một ý nghĩa lịch sử như vậy trong đời tu học của tôi, giúp cho tôi có cái nhìn thấu cảm và thương kính Phật Giáo Việt Nam tại Thái. Tôi cất cao giọng tụng kinh theo tiếng Việt với họ mà miệng thầm ý mĩm cười pháp lạc.

Đúng 1:00 p.m., tôi từ giả mọi người, chư Tăng cung tiển tôi ra xe với ánh mắt mến tiếc sự gặp gỡ đầy tình nghĩa đạo vị. Thật đúng với câu “Bà con thân quyến cũng xa, dòng họ Thích Ca thì gần.” Máy bay cất cánh 2:30, và sau 3 giờ rưỡi bay thì đáp xuống phi trường quốc tế Đài Loan khoảng hơn 7 giờ tại địa phương. Tôi phải sắp hàng lấy vé xe bus thật lâu và bất tiện để đi về thành phố xa khoảng 25km ($115 tiền địa phương).

Đến Đông Độ Thỉnh Kinh

Đến Đài Loan không một người quen, không nói được tiếng Tàu, không ai biết Tuệ Uy tôi và tôi cũng không biết ai, thật là rất khó khăn. Nghĩ lại ngày xưa Đường Tăng đi thỉnh kinh không biết Ngài có học nói tiếng Pali của xứ Ấn không? Nhưng tôi biết tại đây có một vài chùa Việt Nam do Hòa Thượng Tịnh Hạnh lập nên để hóa độ dân bản xứ và hoằng hóa Phật Pháp tại nơi đây. Tìm một nơi nghỉ mệt và ổn định để định vị trước khi đi tìm các chùa để hóa duyên, tôi đến một nhà trọ ngay tại thủ đô Đài Bắc để tắm giặt và nghỉ qua đêm. Phố xá Đài Loan rất hiện đại nhưng không đông và nhộn nhịp nhiều khách du lịch như tại Thái Lan. Họ có hệ thống Freeway tốt hơn. Tôi xuống xe bus và đi bộ đến một Hotel gần đó tên PARADISE ở 7 Huai Ning St., là nơi rẽ nhất mà tôi chọn ($23 US = 600 tiền Đài Loan) nhưng rất tiện nghi cho tôi miễn là có chỗ tắm giặt.

Sáng 28/06/1996, tôi đi bộ đến bến xe bus và quyết định lấy vé đi Phật Quang Sơn để hóa duyên (FOKUANGSHAN) tại Đài Nam (KAOHSIUNG). Xe rời 9:00 sáng và chạy hơn 5 giờ đồng hồ, sau khi ghé đổ khách ở 1 tỉnh nhỏ (tôi suýt xuống lộn nơi đây). Đến thành phố lớn Kaohsiung tôi chờ xe bus (62) quá lâu nên đi chung Taxi cùng với người khác ($200) nhanh hơn nếu không phải mất 2 giờ đi bằng bus vì chùa nằm ở nơi một vùng đồi núi xa thành phố.

Khoảng 3:00 chiều tôi đặt chân đến chùa và mệt lữ. Quý vị quản tự tiếp tôi ra vẻ không quý khách Tăng lắm. Đường Tăng ngày xưa đi đến đâu đều xuất trình giấy khán chỉ của Vua, nên Ngài tới đâu cũng được tiếp đón nồng hậu. Tuệ Uy Tăng tôi không có khán chỉ của Tổng Thống Clinton nên đành phải chấp nhận ra sao thì ra.  Sau khi tôi dùng nhẹ bữa trưa, họ cho tôi 1 phòng khách Tăng mang số 27. Phòng rất hiện đại và sạch sẽ như một khách sạn mắc tiền. Tôi tắm giặt xong và đi dạo một vòng khuôn viên ngôi đại tự này. Chùa Phật Quang Sơn đồ sộ nguy nga như một Thủ Đô vì nó là chùa trung tâm của hệ thống Chùa Phật Quang San khắp nơi trên thế giới, Chùa Tây Lai ở California là một trong những chi nhánh của chùa Phật Quang San này, họ có tất cả hơn 26 nhánh trên khắp thế giới. Nơi đây có trường trung học, 1 trường college khoảng 300 học Ni và Ưu Bà Di. Chùa toàn người Ni, xứ này phái Ni đâu mà nhiều quá vì người Nam rất ít đi xuất gia tại nước này (vì người Tàu họ quý người Nam lắm), hệ thống này nữ đi tu khoảng hơn 1000 vị, còn Tăng khoảng hơn 50, đến chùa Tây Lai Tự ở California cũng toàn thấy chư Ni quản tự và điều hành.

Nói chung đây là ngôi chùa có hệ thống văn minh và lớn hiện đại bậc nhất thế giới mà tôi được thấy, nó đã tròn 30 tuổi trong năm 1996. Vô số tượng Phật bao quanh Tượng Phật lộ thiên cao hàng trăm mét, và vạn ngàn tượng Phật trong chánh điện, 500 tượng A La Hán bên ngoài dọc theo lối vào chùa từ cổng Tam quan.

Sáng 29/6/1996, Tuệ Uy tôi đi lễ Phật và tham quan tiếp trong phòng triển lãm, phòng đọc sách, tôi gặp 1 vị ni rất tốt thấy tôi ho vì tôi mắc bịnh đã 1 tuần sau chuyến đi rời Nepal, vị này cho người Ni khác đến dẫn tôi đi khám bác sĩ. Trong khu chùa có một phòng y tế rất tốt có bác sĩ trực khám bệnh chăm sóc cho chư Tăng Ni và Phật tử, có xe cứu thương riêng, thuốc men rất hiện đại, tôi được một bác sỹ cúng dường thuốc uống sau khi khám.

Tôi về ăn trưa lúc 11 giờ. Khoảng 12 giờ trưa, 2 người bạn Ni rất tốt mà tôi quen trong chuyến bay từ California qua Taiwan (họ quê ở vùng này), họ đến thăm và rất vui khi gặp lại tôi. Khuôn mặt hai vị sư cô rất là sáng láng và phúc hậu. Sau khi thông dịch giúp tôi nhiều thứ … họ thành tâm dâng cúng dường cho tôi 2000 tiền Đài Loan, thật là một việc bất ngờ cho tôi và khiến tôi thầm cảm niệm ân đức Tam Bảo, chư Hộ Pháp Bồ Tát hộ trì giúp sức. Hai sư cô ân cần từ giã tôi, lúc đó hơn 4:00 p.m.

Trưa ngày 30/6/1996, từ giã chùa Phật Quang Sơn, tôi may mắn được đi chuyến xe buýt thẳng đến chùa Phổ Môn Tự ở № 136 11 Floor, Sec. 3, Min Chuân East Road, vào lúc 6:30 tối tại Đài Bắc thủ đô nước Đài Loan. Tôi được đón tiếp và ở khu phòng 803 lớn và được chia ra nhiều phòng nhỏ bên trong thì tôi ở phòng số 5.

Sáng ngày 01/7/96, tôi đi hỏi tìm nơi để thỉnh Đại Tạng Kinh và đến được nhà sách cho thỉnh kinh sách Phật Giáo của hệ thống chùa Phật Quang Sơn ở cách đó hơi xa ($150 taxi). Tại đây không có Đại Tạng Kinh để tôi thỉnh. Buổi chiều cùng ngày, tôi đến một nhà in tại địa chỉ Số 6, 3F. Sec. 3 Shing Sheng South Road theo địa chỉ mang theo, thì tôi được biết phải chờ người thư ký vào làm việc sáng ngày mai vào khoảng lúc 10 giờ thì họ sẽ trả lời, vì đây là trọn bộ Đại Tạng kinh cuối cùng và là ấn bản chót của nhà in mà họ còn lại để làm mẫu.

Tôi thuyết phục các người trong nhà in bằng mọi cách và ông Boss về việc rất quan trọng tôi cần phải thỉnh được bộ Kinh cuối cùng này, nếu không thì rất là buồn vì 1 năm sau mới có ấn bản mới. Còn thỉnh nơi khác quá cao, khoảng gần 4000 đô la Mỹ, tôi không đủ sức. Chiều hôm nay tôi từ nhà in trở về chùa lòng luôn lo âu không biết ra sao và cầu nguyện cho việc thỉnh Đại Tạng Kinh được như ý nguyện.

Đến tối gần 8 giờ theo như lời hẹn liên lạc qua điện thoại, tôi đến chùa Hoà Thượng Tịnh Hạnh, một cao tăng Việt Nam tại Đài Loan, Ngài là một du học tăng và đã lấy được bằng Tiến Sĩ tại đây, và đã trở thành một người Tu Sĩ Việt Nam đầu tiên dạy trong trường Đại học của nước Đài Loan. Tôi đến chờ bái kiến Hòa Thượng thì được biết ngày mai Ngài sẽ về Việt Nam lo công việc dịch Kinh theo như chương trình đã 2 năm nay. Ngài về chùa đã tối từ một ngôi tự viện khác do Ngài thành lập đó là chùa Linh Sơn tọa lạc trên núi nên Ngài phải bận lo sửa soạn hành lý để chuẩn bị mai đi nên tôi không hầu chuyện được với Ngài. Tôi ngủ lại chùa một đêm để chờ được diện kiến kính thăm Ngài, là cơ hội lần đầu và lần sau cùng, vì tôi nghĩ không biết bao giờ mới được gặp lại.

Sáng nay 2/7/96 tôi dậy sớm lúc 5 giờ sáng, và đến đảnh lễ Ngài hầu chuyện Ngài đôi phút. Tôi đưa Ngài ra phi trường, trên xe hơi riêng của Ngài có người thị giả cùng về với Ngài đang lái xe, tôi và Ngài tâm sự với nhau nhiều và hiểu nhau nhiều hơn giữa hai tâm hồn lưu vong xứ người cùng mang chung sứ mệnh hoằng Pháp lợi sanh.

Tại phi trường quốc tế Đài Loan, tôi và Ngài nói chuyện trong thời gian chờ chuyến bay. Đến lúc 7:30 a.m. Ngài vào máy bay. Suốt thời gian chờ đợi tôi hiểu và học hỏi nhiều điều ở nơi Ngài, và vô cùng kính phục đức độ và tâm nguyện to lớn lo cho Phật Pháp của Ngài tại Việt Nam.

Từ phi trường về tôi ghé chùa Phổ Môn để lấy hành trang và từ giả để qua xin trú ngụ tại Linh Sơn giảng đường của Hòa Thượng Tịnh Hạnh để tiện cho việc thời gian lâu dài cư trú tại Đài Loan nhằm mục đích lo việc thỉnh Kinh hoàn tất trong hành trình chiêm bái xứ Phật và thỉnh kinh.

Vì quy luật chùa Phổ Môn họ chỉ cho khách Tăng ở chỉ được 3 ngày (mà tôi đã ở đó coi như gần 2 ngày), Hòa Thượng cũng góp ý tôi là nên đình chuyến bay ngày 4/7 sắp tới vì quá gấp để lo Phật sự, và Ngài cho phép tôi trụ tại Linh Sơn giảng đường, một ngôi chùa nằm trên tầng 3 và cơ sở chính thì nằm trên tầng lầu 7.

Ở Đài Loan đất rất mắc nên chỉ mua được 2 tầng lầu trong một buiding như vậy ở tại thành phố để làm chùa làm Phật sự. Ngài kể: người Tàu xứ này họ rất kỳ thị người Việt. Thời gian đầu Ngài du học gặp rất khó khăn nơi ăn chốn ở, lại không có người Việt tại Đài Loan, may nhờ Ngài có lòng nhẫn nhục kiên trì cộng với tài đức của Ngài nên lần lần thu phục được người bản xứ và lập nhiều chi nhánh chùa Việt Nam thu nhận đệ tử và Phật tử người bản xứ, nay lại có nhiều đệ tử Ni và Tăng tu học cầu Pháp theo cầu Ngài làm vị bổn sư.

Công việc tu học tại đây rất nề nếp, giới luật rất trang nghiêm, và hoạt động xã hội rất đắc lực với hệ thống làm việc hiện đại. Nhân viên Phật tử đến cơ sở này hằng ngày rất đông. Có giảng hằng tuần cũng như có cư sĩ học thức đến giảng. Một tháng chùa phải phát hành 30 ngàn lá thư để gửi tạp chí Nguyệt San. Tôi đến vào dịp này nên tôi thấy họ bận rộn vô bì thư rồi xếp vào hàng mấy chục bao bố đầy thư và mang vác các bao thư này đến bưu điện gần đó vài bước dưới lầu 1 bên trái. Đặc biệt chùa đây rất tiện vì Hoà Thượng chọn rất đúng nơi gần trung tâm xe bus lớn nhất và trung tâm xe lửa tại thủ đô. Hai bến xe này gần sát nhau và bộ hành đến chùa khoảng 5 phút. Chợ, siêu thị, tiệm lớn nhỏ đầy chung quanh Chùa Linh Sơn, vì đây là thành phố nên quán xá sang trọng san sát nhau, mua gì cũng có, nhất là đi đến trung tâm Siêu Thị lớn nhất, ở tầng lầu cao nhất và lớn nhất ở Taipei (28 tầng) sang trọng hiện đại và rất lịch sự. Nói chung là y báo của nước Đài Loan thật tuyệt vời đối với tôi và tôi rất tự hào về họ một nước đa phần theo Phật Giáo.

10:20 AM ngày 2 tháng 7 năm 1996 là ngày trọng đại chính thức tôi được nhà in trả lời rằng: sau khi họ họp bàn thảo kỷ lưỡng với ban giám đốc nhà in thì họ đồng ý cho tôi thỉnh bộ Đại Tạng Kinh cuối cùng của họ giữ làm mẫu tại nhà in. Tôi rất vui không sao kể xiết khi nghe được tin báo này và thầm cảm niệm ân đức gia trì của chư Phật.

(Chuyện gì sẽ đến với Nguyễn Tăng đi thỉnh Kinh, còn tiếp và đón xem...)

Ngày 3 tháng 7 na9m 1996, Hành giả được Thầy Hạnh Viên người Đài Loan đệ tử của Hoà Thượng Tịnh Hạnh cho một chú Phật Tử chở tôi đi thăm viện Bảo Tàng Quốc gia có tầm vóc Quốc Tế tại Đài Loan. Đây là một viện Bảo Tàng có giá trị quý giá không thể tưởng tượng về các đồ Bảo vật vàng bạc châu báu đá qúy có từ các đời vua bên Trung Quốc và có những vật có từ 10.000 trước công nguyên. Các vật điêu khắc rất tuyệt hảo, các bút tích chữ nghĩa đầy. Nếu để thì giờ xem và đọc tỉ mỹ thì phải mất 3 ngày vì nó có nhiều tầng và và cách chưng bày rất đẹp, giá mà có Thầy Thích Chúc Thành ở đây thì Thầy rất thích. Kế đó, tôi đi thăm một ngôi chùa đẹp trên núi đối diện khu viện bảo tàng. Nói chung, nhìn Viện Bảo Tàng quốc gia Đài Loan tôi có thể nói nó co giá trị hàng chục Tỷ Đô la về đồ cổ. Từng phần một nhất là văn hóa, Tượng của phật giáo rất nhiều, có riêng cho một phần văn hóa PG Tây tạng mà những món trong đây đa số có một không hai trên thế giới. Nước Đài Loan họ giàu thật nên mới sưu tầm và dành ra nhiều tiền mới mua được những món đồ quý này. Đây là viện Bảo Tàng lớn nhất giá trị nhất mà tôi chưa từng thấy và nên đi xem.

Ngày 4 tháng 7 năm 1996 (July 4th Lễ Độc Lập Hoa Kỳ). Tuệ Uy tôi cũng được hai người Phật tử nữ đứng tuổi do Thầy Hạnh Viên sắp xếp chương trình đến đưa tôi đi từ 9:30 sáng đi thăm một trường Đại học lớn nhất và nỗi tiếng nhất tại Đài Loan, lớn thật nhưng hệ thống quá cũ. Thư viện rất nhiều sách nhưng chổ để sắp xếp rất chật chội tối tăm không đẹp mắt - chỗ học của học sinh rất đơn giản và nóng chỉ có quạt điện lưa thưa, nhìn là học bài không vô rồi bởi vì thời tiết nóng bức oi ả không thoáng khí trong thư viện, nhưng trường dạy rất nổi tiếng. Bên ngoài cảnh cũng đẹp và có sân thể thao, khu thể dục không rộng lắm nếu đem so sánh với trường high school ở Hoa Kỳ.

Tiếp đến Nguyễn Tăng được đi đến thăm chiêm bái một nhục Thân Bồ Tát Thánh Tăng Đạo hiệu Thích Thanh Nghiêm tại chùa Hải Tạng. Đây là một việc nhân duyên tôi rất thú vị và phấn khởi khi thăm và nhìn tận mắt toàn Thân Xá-Lợi của Ngài. Đọc qua tiểu sử Ngài thọ tại thế 46 tuổi và nhập Niết bàn cách đây 39 năm trong tư thế kiết già phu tọa. Ngài được chư Tăng phật tử làm lễ tang rất lớn. Nhục Thân của Ngài bây giờ bảo vệ quanh bên ngoài bằng thếp vàng được thờ trong một nơi trang nghiêm trong ngôi chùa Hải Tạng cũ rất nhỏ và chật hẹp. Chùa sắp khánh thành ngôi chùa mới có cơ sở rất hiện đại và trên 10 tầng lầu đẹp gần đó vài bước. Nhìn ngài tôi nhớ liên tưởng lại hai Nhục Thân Thánh Tăng Việt Nam tại chùa Đậu cách Hà Nội mười 19 km, nơi tôi và Thầy Giác Tông có dịp đến chiêm bái 3 ngày vào mùa xuân năm 1990. Tại chùa Hải Tạng, tôi dùng cơm và chụp hình, quay phim, nhận sách và tượng lưu niệm.

Kế đến, Tuệ Uy tôi đến thăm một trường Đại Học Sư Phạm có tiếng thứ II tại Đài Bắc. Trường cơ sở có 2 phần nằm 2 bên đường đối diện rất lớn. Thư viện gồm hơn 7 tầng toàn là sách và cách chưng bày rất khoa học đẹp mắt, hệ thống mới hiện tại có computer và phòng lab. Tôi đến xem nhìn học sinh học bài đầy cả phòng, các bàn trong thư viện xếp sát với nhau và không có ngăn vách như các ở community college ở Hoa Kỳ. Đặc biệt, trường này là trường có nhiều học sinh ngoại quốc đến đây ghi danh tham học gồm khoảng 2000 vị. Có một sự tình cờ và rất ngẫu nhiên, Hành giả gặp được Thầy Hạnh Bình & Thầy Minh Hiếu từ Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn sang tận đây du học. Thầy có vẻ vui mừng phấn khởi khi gặp lại tôi người Tăng sĩ đồng hương Việt Nam nơi xứ lạ, nhưng rồi rất e ngại điều gì đó khi tôi giới thiệu từ Hoa Kỳ đến thăm. Nói chuyện qua loa, Thầy nói bận và từ giã đi … Tôi có cho địa chỉ tại chùa Linh Sơn ở tôi đang tạm trú trong thời gian đi thỉnh kinh, nhưng không thấy Thầy gọi và đến thăm. Theo tôi được biết có đến năm vị học tăng từ Việt Nam qua Đài Loan du học, không thấy vị nào đến tạm trú tại hệ thống Chùa Linh Sơn cả.

Thêm một điều thú vị nữa mà tôi được biết, đây là trường Đại Học nơi Hoà Thượng Tịnh Hạnh tốt nghiệp và còn 2 Hoà Thượng khác như Ôn Ngài Đức Niệm và Chánh Lạc hiện ở Mỹ cũng cùng thời du học tại Đài Loan học trường đại học này Hòa Thượng Tịnh Hạnh. Trong ba vị Tăng sinh Việt Nam, hai vị tái định cư ở Hoa Kỳ, chỉ còn lại một mình Ngài Tịnh Hạnh kiên trì bám trụ cho đến nay Hòa Thượng rất thành công tại Đài Loan. Ngài cũng là một vị Giáo Sư đại học người Tăng sĩ Việt Nam đầu tiên, và được chính phủ Đài Loan chính thức tuyển nhận dạy trong trường Đại Học nổi tiếng đứng hàng thứ ba ở quốc gia Đài Loan. Tôi rất tự hào và rất hãnh diện về công hạnh hoằng pháp lợi sinh của HT. Thích Tịnh Hạnh, người Tăng sĩ Việt Nam, làm rạng danh tại xứ người.

Sau cùng, Tuệ Uy tôi quyết định chọn đi thăm trường đại học của HT. Tịnh Hạnh đang giảng dạy, đây là ngôi trường đại học thứ ba và cuối cùng trong chuyến đi thỉnh kinh của Tuệ Uy tại quốc gia Đài Loan. Trường này cũng cũ và đóng cửa vào mùa hè này. Hai người phật tử đưa tôi đi họ rất tử tế nhất là người tài xế đả từng ở Mỹ lâu năm có quốc tịch Mỹ ở Hawaii về lại Đài Loan năm 1987, 2 vị này đã từ giã tôi và thành tâm cúng dường cho tôi $2000. Cũng như ở Nepal, tôi để quên lại xâu tràng hạt 108 quý giá, và chuyến đi Đài Loan thì tôi bị lạc mất cái mắt kiếng.

Ngày 5/7/1996, một buổi sáng đẹp trời, Tuệ Uy tôi chính thức đi nhận thỉnh Đại Tạng Kinh. Một ngày tôi rất vui mừng sung sướng và vô cùng xúc động tại một nhà in lớn của quốc gia Đài Loan. Tổng cộng Bộ Đại Tạng gồm có một trăm cuốn kinh dày cộm. Sau khi ký nhận giao kèo đôi bên tôi phải chi trả tổng cộng 74,000 tiền Đài Loan ($2,740 US) gồm luôn cả tiền in ấn Đại Tạng kinh và chi phí gởi bằng đường thủy về Việt Nam = (68,000 + 6.000 = 74,000).

Ven. Master Thich Tue Uy in 1996 --- HoPhap.net

Tôi Tuệ Uy thành tâm làm lễ một mình, nhất tâm đầy thành đảnh lễ ba lạy và dùng đầu đội một quyển Tạng Kinh chính thức thọ nhận Bộ “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” tại nhà in. Người thư ký nhà in giúp tôi chụp hình và quay phim do tôi mang theo. Đồng thời, tôi ghi đôi dòng chữ lưu bút nói mục đích thỉnh kinh và tặng cúng dường trong cuốn Đại Tạng quyển thứ Nhất, quyển thứ 85 và quyễn thứ 100. Trong giây phút linh thiêng tràn đầy xúc động những dòng chữ lưu bút đó được viết như sau:

Đài Loan Dân Quốc thứ 85, ngày 5 tháng 7 năm 1996

Mùa An cư Phật Lịch 2540

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con đệ tử Tỳ kheo Thích Tuệ Uy, người tu sĩ Việt Nam đã phát nguyện về Tây Trúc chiêm bái nơi “Bốn Động Tâm” quan trọng của Đức Thế Tôn và những nơi khác từ năm 1990. Trãi qua sáu năm sáu tháng con đã về được nơi xứ Phật tại vườn Lâm Tỳ Ni vùng đất “Thánh Địa” ở nước Nepal cách biên giới nước Ấn hơn mười cây số ngày này, ngay ngày Đức Thế Tôn thị hiện Đản Sanh, ngày Rằm Tháng Tư năm nay.

Sau gần một tháng chiêm bái, con tiếp tục trở về Đông Đô nước Taiwan để thỉnh kinh. Vì Đại Tạng Kinh Phật đã truyền đến nước này. Con được phước đức nhân duyên mới thỉnh được bộ Đại Tạng gồm một trăm cuốn đang tại nơi ấn bản. Giấy rất là tốt từ Anh Quốc, có thể cầm một tờ lên mà không rách. Giấy này sẽ tãi Kinh Phật dài tới hai trăm năm. Đó là nhờ nơi Hồng Ân Tam Bảo gia hộ, Đại Đức Chúc Thành hướng dẫn cũng khích lệ hộ niệm, cũng như chư Tôn Đức Tăng và Chư Thiện Nam Tín nữ, đặc biệt là hai vị Phật tử Hộ Pháp của con là Đức Thanh và Đức Hạnh tại Sài Gòn, cùng thân quyến người dân “An Hải Bắc”, Phật tử sống tại Mỹ Quốc.

Trước Tam Bảo mười phương, con tại nơi đây đảnh lễ Thọ thỉnh Tam Tạng Kinh Điển này xin gởi về quê hương Việt Nam, nơi có Chùa Tổ Non Nước, Ngũ Hành Sơn - Quảng Nam Đà Nẵng để trước cúng dường cho Ngài Thích-Giác-Tông và sau cho Thập phương Tăng làm Pháp Bảo tu học.

Nguyện cho những ai thấy, đọc và thọ trì Pháp Bảo này sẽ sớm thâm nhập kinh Tạng, Trí huệ sanh trưởng và chóng thành quả Giác Ngộ.

Nguyện cho con và chúng sanh đời đời sanh ra được thọ trì Phật pháp và ủng hộ Phật pháp bền vững lâu dài trong thế gian.

Nguyện cho gia quyến con, Chư Phật tử công đức và chúng sanh diệt trừ tham sân si, tu Giới Định Huệ, tai qua nạn khỏi, tùy tâm mãn nguyện.

Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.

Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát

Kính Cúng Dường”

Người thư ký của nhà in là một Phật tử, cô ta rất đẹp người và đẹp nết, vui vẻ và tận tâm hết sức giúp đở cho tôi thành tựu ý nguyện thỉnh kinh. Cô ta hứa Đại Tạng Kinh sẽ được đóng thùng cẩn thận và gửi thẳng về Việt Nam mất khoảng 3 tuần. Vì Tuệ Uy tôi không tiện mang tải Kinh về quê hương vào lúc này, nhưng Đại Tạng kinh sẽ mang cả tâm hồn của tôi theo đường tàu biển về Việt Nam như xưa kia Đường Huyền Trang thỉnh kinh Phật về đường biển đến Trung Hoa. Tôi rất lấy làm cảm kích và vui sướng trong lòng, vì đây là bộ Đại Tạng cuối cùng của nhà in gồm 100 cuốn, mỗi một mặt trang kinh chứa hơn 1,000 chữ Hán. Giấy kinh rất tốt nhập cảng từ Anh Quốc. Theo lời cô thư ký, tôi cầm 1 trang kinh nâng lên cả quyển kinh dày nặng mà trang kinh không bị rách/xút bìa. Giấy này bảo đảm không hư mục và truyền được kinh đến 200 năm hơn. Hôm nay tôi rất hỷ lạc vô biên vì đã hoàn tất chuyến đi thỉnh kinh trong sự mầu nhiệm của Hồng Ân Tam Bảo. Chờ một tháng nữa ở Việt Nam xin được giấy phép Tôi mới cho nhà in họ gởi về khoảng 20 ngày đường Tàu là đến tại cảng Sài Gòn.


Một ngày ý nghĩa và pháp hỷ nhất trong cuộc đời tu học khi được chiêm bái và thỉnh được Đại Tạng Kinh Phật trong một đại nhân duyên và mầu nhiệm -- www.HoPhap.Net


Thật vậy, đây là một ngày ý nghĩa và pháp hỷ nhất trong cuộc đời tu học của Tôi. Tôi có tặng cho cặp vợ chồng người thư ký này một chiếc lá Bồ Đề tại cây Bồ Đề nơi đức Phật thành đạo và tôi chúc phước lành đến cô, và cô thư ký rất mừng, sung sướng tột cùng. Cầm chiếc lá Bồ Đề trân quý trong tay, cô ta cầu nguyện ước sẽ được sinh ra một người con gái trong tương lai từ cái bầu thai của cô. Tôi thành tâm cầu nguyện Đức Phật chứng minh gia hộ cho gia đình cô và hãng in này càng phát triển tốt đẹp, vì đây là hãng chỉ in toàn kinh sách Phật giáo có tâm Đạo. Không phải như nơi khác in giấy kính không tốt lại còn phát hành kinh quá đắc!

Ngày 6/7/96 Tôi đi lên chùa Linh Sơn trên núi ngủ lại hôm qua và ngày nay sáng sớm được người Phật tử chở về ghé chủ đích đến thăm một Nhục Thân của một vị Hoà Thượng Thánh Tăng nữa. Chùa này nằm tại một khu núi nhìn xuống thành phố rất gần, có tên là “Di Lặc Nội Viện” mới vào nhìn hình Hoà thượng rất lớn tưởng như Ngài Di Lặc vì rất giống hệt tướng Ngài Di Lặc. Hòa thượng chụp cũng để bụng phệ lúc ở để trần phần bụng và tươi cười. Vào trong là nơi chổ Ngài viên tịch có tạc một tượng đồng bên trong nhìn qua một cái cửa sổ nhỏ như đưa cơm vào lúc Ngài nhập thất tu trì. Bên ngoài là các hình ảnh của ngày trước và sau khi thị tịch niết bàn. Hình ngài ngồi thiền trước khi viên tịch và sau đó ngài vào trong 1 cái lu niêm phong, 3 năm sau đệ tử mở ra thì thấy râu và tóc vẫn mọc sau đó vài ngày lúc khi Ngài đã viên tịch. Hình Hòa Thượng rất ốm và đầu hơi nghiên không như Ngài Thanh Nghiêm đầu chỉ hơi ngục và ngay.

Sau đó tôi đi qua và lên một nơi địa thế cao là một toà đề tên Ngài và nơi đó tôn nghiêm như một ngôi chùa. Hình tượng ngài được phủ bên ngoài bằng một lớp vàng và thờ ngay chánh điện như phật ngự, đèn cầy dầu thắp cúng dường sáng 2 bên rất nhiều. Chùa này là do ni cai quản chỉ có thấy 1 vị tăng ở khu chùa dưới. Họ không cho quay phim trong chánh điện, nhưng tôi vẫn quay được để làm hình ảnh lưu niệm có ích sau này cho những ai có dịp nhìn xem mà chưa có đến Đài Loan. Tại chùa này cũng như lần chiêm bái nhục thân thứ I tôi đều phát nguyện cầu 2 Ngài chứng minh cho ước nguyện của Tuệ Uy sau này mà tôi cũng viên tịch được như vậy để Thân lưu lại làm lợi ích cho nhiều người sanh tín tâm Phật Pháp mà theo tu học, có thể là ở Mỹ hay ở quê hương tôi. Hoà Thượng này ngài có đến chiêm bái ở xứ Phật và đi chu du rất nhiều nước, ngài có vẻ như vị Tăng thời đại và dạy học ở Hongkong nhiều năm. Ngài viên tịch năm 60 tuổi Dân quốc thứ 43 (năm nay 85 đã 42 năm) ngày 6 tháng năm. Ngài ẩn dật tu mật hạnh 2 năm trước khi viên tịch, đó là lần ẩn dật thứ 3.

Như vậy ngài đã tịch trước Hoà Thượng Thanh Ngiêm 3 năm. Đài Loan có 5 vị cao tăng có đại Nguyện Lưu Nhục Nhân như vậy. Đây là một việc hoàng pháp lợi sanh rất hay mà tôi cũng vô cùng tùy hỉ và phát nguyện.

Ngày 7 tháng 7 là ngày cuối cùng sau 10 ngày trú tại Đài Loan. Sáng nay tôi đi thăm lại chùa Phổ Môn để nhận lấy cái Fax của Chúc Thành Fax qua cho tôi hôm ngày 2/7. Trong Fax Thầy và Hoà Thượng Trí Giác trụ trì chùa Tam Thai, Thượng Toạ Thiện Duyên ở Tam Kỳ cùng chư phật tử rất hoan hỉ khi biết sắp thỉnh được bộ Đại Tạng.

Sau đó tôi đến thăm một cái cung Hành Thiên gần đó để xem phong tục văn hóa nghi lễ của người Đài Loan, đây là một cung to lớn giống như một cái chùa có rất đông đúc người về đây cầu nguyện hương khói ghi ngút vì hôm nay cũng là ngày Chủ Nhật. Dưới các đường hầm từ 4 góc ngã tư dành cho người đi bộ khỏi đi trên đường lộ làm kẹt xe. Đi ngang qua một lối đường địa đạo dẫn về chùa tôi thấy có những nhà phòng nhỏ như cơ sở thương mại lõm sâu vào 2 bên tường của đường hầm, họ để bàn xem tướng xem bói, rất đông. Tôi lấy làm thích thú nhìn thấy lần đầu đi vào đường hầm xây cất như vậy. Trong cung này nổi tiếng là linh thiêng và xin xâm. Hội người làm chủ Cung Hành Thiên này rất giàu mạnh. Họ có cả bịnh viện tư trong Đài Bắc.

Tôi trở về ăn trưa tại giảng đường Linh Sơn và nghỉ ngơi sắp xếp để chuẩn bị 8 giờ tối rời đến phi trường cho chuyến bay № CI008 cất cánh lúc 10:30 p.m. và sẽ đến Los Angeles 7:25 p.m. cùng ngày ở Mỹ để kết thúc chuyến đi dài 38 ngày vô cùng ý nghĩa và quan trọng nhất trong lịch sử đời tôi. Tôi vô cùng cảm niệm ân đức của Tam Bảo, chư Tôn Đức Tăng Ni, Sư phụ của tôi, gia đình quyến thuộc, chư vị đệ tử, và Phật tử muời phương đã nhiệt tâm hết lòng ủng hộ, gia trì, hộ niệm cho tôi được thành tựu độc hành trên hành trình về xứ Phật và hoàn tất sứ mệnh thỉnh kinh một cách nhiệm mầu giống như Đường Huyền Trang độc hành đi thỉnh kinh ngày xưa. Tuy nhiên con đường đi chiêm bái thỉnh kinh của tôi nếu đem so với Ngài thì trăm ngàn phần tôi chẳng bằng một phần của Ngài. Tôi vô cùng may mắn vì tôi được đi bằng tàu bay phản lực trong lúc Ngài Huyền Trang phải đi bộ và bằng ngựa trải qua sa mạc vô cùng nguy hiểm. Tôi nguyện đem công đức này hồi hướng cho cha mẹ gia đình và pháp giới chúng sanh trọn thành đạo quả.


Đoạn Kết cuốn quyển Nhật Ký Hành Trình Về Xứ Phật

15 năm sau kể từ ngày hành hương về xứ Ấn chiêm bái và đến Taiwan thỉnh kinh trở về lại Hoa Kỳ, Tuệ Uy tôi bận rộn đủ mọi việc, vừa học tại trường Đại Học cho đến khi hoàn tất tốt nghiệp vừa phục vụ trong Quân Đội ngành Tuyên Uý Hoa Kỳ, lập Đạo Tràng Tu Viện Hộ Pháp tiếp Tăng độ chúng, Phát thanh chương trình Tuyên Uý Phật Giáo trên Radio Little Saigon, thuyết Pháp lợi sanh mỗi đêm, ngày ngày phải đi làm tại một trung tâm Tâm Thần để cứu nhân độ thế đồng thời cũng để duy trì cơ sở Tu Viện, hoạt động tự do tôn giáo nhân quyền cho Việt Nam, hoạt động xã hội, và làm từ thiện tích cực, tham gia mọi công tác Phật sự của Giáo Hội, Phật sự đa đoan, gần đây phụ trách thêm chương trình Truyền Hình Phật Giáo đài Global TiVi, và hoằng pháp không biết mỏi mệt… Thời gian trôi qua thật mau, tóc đã bạc trán đã nhăn mà tôi cũng chưa có dành được thời gian viết thêm một đoạn cuối để hoàn tất cuốn quyển Nhật Ký Hành Trình Về Xứ Phật này. May thay, mãi đến Tối hôm nay ngày 15 tháng 11 năm 2011, đúng là một nhân duyên lại đến, người đệ tử của tôi Đức Diệu Tường từ giả Sư phụ ngày mai chuẩn bị hành trang lên đường rời Hoa Kỳ đi về xứ Ấn Độ hành hương chiêm bái Đức Phật theo phái đoàn của Phật tử bên xứ Úc Đại Lợi do Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng làm trưởng đoàn. Tôi vội sửa lại bản thảo cuốn nhật ký này đã hơn một lần dỡ dang cách đây 5 năm chưa được hoàn tất, và nay viết xuống thêm đoạn kết Hành Trình Về Xứ Phật của Hành giả đã về Xứ Phật cách đây hơn 15 năm để làm món quà tinh thần tặng cho người đệ tử và Đoàn hành hương. Dòng chữ bắt đầu tuôn chảy và những hình ảnh một thời tại đất Thánh Địa xứ Ấn Độ như hiện lại rất rõ nét trong ký ức của tôi... và bắt đầu viết.

Khởi đi từ một ngày của mùa xuân tiết giá lạnh năm 1990, tôi cùng với 3 huynh đệ khác, thầy Chúc Thành, Thầy Chúc Huệ (Tuệ Chiếu) và một nam cư sĩ trẻ lên đường từ Đà Nẵng và Bắc tiến. Cuối cùng toa xe lửa đã dừng lại trạm cuối cùng tại sân Ga Hà Nội. Chân tay của huynh đệ chúng tôi lạnh cóng vì chưa quen cái lạnh giá buốt của miền Bắc. Mang theo 2 chiếc xe đạp ra Bắc, huynh đệ chúng tôi cùng nhau đạp xe đi tìm chùa gần nhất ở Hà Nội. Hỏi ra mới biết đường đến chùa Quán Sứ. Một bà cụ tên Nhâm như vóc dáng người Bắc như bà tiên đến đón chào huynh đệ chúng tôi bốn người từ cổng chùa. Cụ vui cười vừa nhai trầu vừa mừng chấp tay xá, cụ nói: “Tối đêm qua con năm mơ thấy có người bảo có các sư miền Nam ra thăm bị mưa ướt lạnh, mau ra đón quý sư về mà lo cho chu đáo!” cụ Nhâm kể tiếp, trong mơ con không biết phải là thật không, nhưng trong lòng vẫn thấy nôn nao, mong trời hừng sáng là ra chùa xem thử, vì cụ thường hay về chùa Quán Sứ tu học và tụng kinh. Thế là cụ ra chùa sáng sớm hôm nay, thì gặp được huynh đệ chúng tôi nên cụ Nhâm rất mừng và lòng tin Tam Bảo của cụ tăng thêm.

Nhờ cái duyên hi hữu này, chúng tôi được đi thăm khắp cùng chùa chiền lịch sử ở đất Bắc. Gia đình cụ Nhâm và quý cụ bạn đạo của cụ Nhâm trong xóm cùng nhau đến giúp đở phương tiện rất nhiệt thành trong thời gian chúng tôi hành hương chiêm bái đất Tổ ở xứ Bắc. Chúng tôi khởi đầu chuyến đi là thăm chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Hương, v.v…. Đặc biệt, lúc đến tận đỉnh núi Yên Tử nơi chùa Đồng, đứng giữa may bay lồng lộng táp vào người hơi nước lạnh, chúng tôi có cảm giác nhẹ nhàng và linh thiêng khó tả. Tôi niệm Nam Mô A-Di-Đà Phật rất lớn tiếng từng hồi như sư tử hống, rồi nghe tiếng vang cũng niệm Phật trở lại. Ngủ lại trên đỉnh núi một đêm đầy kỷ niệm, sáng sớm hôm sau huynh đệ chúng tôi cùng đứng trên đỉnh núi Yên Tử, tại chùa Đồng đồng phát nguyện: “Hôm nay, huynh đệ chúng con về đây chiêm bái đất Tổ, cảnh chùa chiền đất Tổ thật linh thiêng còn dư đọng rất nhiều ấm đức của chư Tổ ngày xưa tu hành đắc Đạo. Chúng con thành tâm phát nguyện xin nguyện mười phương Tam Bảo và Thiền Tổ Trúc Lâm Yên Tử chứng minh gia hộ cho 4 huynh đệ chúng con sau này ai đi được xứ Phật tại Ấn Độ đến Tứ Động Tâm của Phật để đảnh lễ thì người đó sẽ có sứ mệnh thỉnh cho bằng được 4 cục đất tại 4 nơi Tứ Động Tâm này (1) nơi Phật Đản Sinh, (2) Thành Đạo, (3)Thuyết Pháp lần đầu tiên, và (4) nơi Phật nhập Niết Bàn thỉnh đất này về tôn thờ cúng dường tại Tổ Đình Linh Ứng Núi Ngũ Hành Sơn.

Sau chuyến đi nhiều ngày qua nhiều nơi để chiêm bái đất Tổ tại miền Bắc Việt Nam tôi về lại trong Nam sống tu học tại Sài Gòn, còn 3 huynh đệ kia về lại Đà Nẵng. Gần cuối năm đó tôi được một duyên may cho biết sẽ có đường đi “vượt biên.” Tôi nghĩ rằng đây là duyên lành “Tâm thành tất ứng,” vì muốn đi đến Ấn Độ xứ Phật chiêm bái chỉ có con đường duy nhất thời đó là phải vượt biên ra nước ngoài, rồi từ đó sẽ tìm cách đi Ấn Độ sẽ được dể dàng hơn, bằng không đến khi nhắm mắt lìa đời cũng không đạt được ước nguyện này, hoặc phải tái sinh lại kiếp sau mới có thể thực hiện được.

Để chuyến đi được may mắn thành công không bị bắt tù tội, tôi tín tâm Tam Bảo rất sâu nặng và phát nguyện thọ trì 7 bộ Pháp Hoa trong thời gian ngắn nhất. Sáng trì tụng hết một bộ, chiều tụng hết một bộ kinh, tôi tâm tâm niệm niệm tin tưởng rằng chuyến ra đi này nhất định sẽ thành công vì tôi đã giao phó hết sinh mạnh này cho Phật. Như đã chuẩn bị thật chu đáo trước, vào một đêm tối trời ngày 14 tháng 10 năm 1990 tôi rời Sài Gòn xuống tỉnh Bến Tre và khuya hôm đó qua cửa biển Bình Đại chúng tôi rời Việt Nam thật sự. Chuyến này có Thầy Giác Minh (hiện ở Kansas) Thầy Như Thanh (Canada) và tôi, cũng đi với 4 huynh đệ gồm 3 Tăng sĩ và một cư sĩ nam trẻ, nhưng không phải người trong nhóm chiêm bái xứ Tổ ở miền Bắc vừa qua. Chỉ có mình tôi trong nhóm đó rời Việt Nam trước, trong lòng nghĩ rằng ước mơ hy vọng về xứ Phật của mình sẽ sớm thành hiện thửc.

Trải qua những ngày lênh đênh trên biển cả sau 3 ngày là hết nước hết lương thực, máy tàu hư phải sửa … chuyến đi nhiều gian nan và nguy hiểm đến cả tánh mạng. Con tàu mang  biển số TG 0486 chở quá trọng tải vì có quá nhiều người gồm có 70 người chẵn, kể cả đàn bà và trẻ em. Ai ngồi đâu ngồi đó, đi tới đi lui sẽ làm nước biển vào thuyền, vì mực nước biển cách miệng thuyền một ngang tay (2 tất). Chưa nói đến cảnh dành ăn dành uống hổn loạn trên tàu “đói ra ma ra quỷ” Phần chúng tôi 3 huynh đệ tu sĩ không ai để tâm để ý tới, không nước không cơm ai cho miếng nào.

Đang say ngủ vì đói vì mệt giữa biển cả nóng bức khí trời oi ả, bổng nhiên mọi người kêu la thất thanh: “Quý Thầy ơi mau lên cứu chúng con với!!!” Theo lời khẩn cầu chúng tôi phải bước nghiêng bước ngửa leo lên cabin quấn tấm y vàng vào thân để theo sự tin tưởng của họ là hải tặc Thái khi thấy các sư thì họ sẽ tha cho. Lần đầu tôi mới biết cảm giác bị hải tặc đuổi bắt để cướp của giết người như thế nào. Trong lòng tôi nghĩ phen nay chết rồi còn đâu còn đâu! Vì tôi cũng có một quen một thầy đi vượt biên nhiều chuyến trước đã bị hải tặc Thái bắn chết khi thầy cố xin tha cho mọi người đàn bà đang bị cưỡng hiếp và thả biển. Thì ra là hải tặc đang hết ga hướng mũi tàu chạy về phía con tàu chúng tôi, khói đem mù mịt, mạnh tàu ai nấy nhất hết ga, kẻ đuổi người rượt bắt ….

Đang thành tâm râm râm niệm Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn, thì bổng nhiên một tàu sắt chở hàng hóa đi ngang qua trên hải phận quốc tế vừa kịp khi con tàu chúng tôi thoát nạn vì hải tặc Thái hoảng sợ chiếc tàu hàng này nên đành bỏ chúng tôi và quay đầu tàu chạy lui về. Mọi người hú hồn hú vía vừa thoát nạn, ai cũng tỉnh ra hết mệt và tươi cười mừng rỡ nói tạ ơn Bồ Tát cứu khổ, cảm ơn các ông thầy đã cầu nguyện ra tay cứu nạn. Đúng là “lúc Thầy đói khát chẳng thấy ma nào hỏi han, chẳng ai kêu réo; lúc gần đến tử thần nạn tai thì kêu thầy cứu con” Hay là câu, “Ngày thường thì chẳng thắp nhang, đến khi có nạn thì ôm chân Phật/Thầy”


Cầu tàu tại đảo Galang nơi có nhiều xác con tàu thuyền người Việt tỵ nạn chìm đắm -- Photo by Thich Tue Uy 1993


Sau 10 ngày ăn xin khuất thực thức ăn, dầu, nước trên biển cả tại các đảo nhỏ, cũng như bị tống ra khỏi nước Malaisia khi ghé vô..., cuối cùng nhờ Tam Bảo gia hộ chiếc tàu nhỏ của chúng tôi cũng được cặp bến an toàn tại cầu tàu đảo Galang, Indonesia chiều tối ngày 24 tháng 10 năm 1990. Vẫn còn nguyên vẹn 70 người ốm đói, nhưng thần sắc không còn. Nhập trại tỵ nạn và sống đời tỵ nạn hơn 3 năm vui buồn khổ lụy cùng với chúng sinh đồng bào Việt Nam, tôi chứng kiến nhiều cảnh sanh già bệnh chết, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, tự tử tự thiêu tự vận .v.v… qua các cuộc “thanh lọc” “cưỡng bức hồi hương” nói ra không hết…


Thầy Thích Tuệ Uy đang thực hành hạnh khất thực để gieo duyên Phật Pháp với mọi người Việt tỵ nạn tại đảo Galang -- www.HoPhap.Net


Sau nhiều thử thách khổ nhục đủ điều làm thân tỵ nạn xứ người, cuối cùng ngày tôi rời đảo tỵ nạn đã đến đó là một ngày cuối tháng 11 năm 1993 Tuệ Uy tôi đặt bàn chân đầu tiên trên mảnh đất tự do Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, bang Colorado, Denver. Nhiều đoạn trong cuộc sống được lược qua, và sẽ kể lại trong một dịp khác, cho đến ngày tôi chuẩn bị hành trang lên đường về xứ Phật ngày 27 tháng 5 năm 1996 cách đây 15 năm, và phải trải qua hơn 6 năm rưỡi chịu đựng nhẫn nhục, khổ hạnh v.v…, để nuôi dưỡng chỉ một điều ước nguyện là về xứ Phật đảnh lễ. Cuối cùng, sau thời gian dài miệt mài vun xới chăm sóc đến lúc chín mùi đủ duyên cây mới đơm bông kết trái, bàn chân của Hành giả in dấu trên Đất Phật.

Trời đã sáng hồi nào không hay, ngoài trời mùa thu lạnh lẻo, tại thư phòng của Tu Viện Hộ Pháp Tuệ Uy tôi tạm dừng viết những dòng chữ này vào lúc 4:55 sáng ngày 16 tháng 11 năm 2011 để tặng cho bạn những người chưa từng phát nguyện về xứ Phật một lần, khi đọc qua hi vọng bạn liền phát tâm về Thánh Địa Phật Giáo Ấn Độ ngay trong đời này.

Đồng thời, tặng cho người đệ tử của tôi, Đức Diệu Tường, kịp trước lúc lên đường ra sân bay Los Angeles ngày hôm nay. Chúc con thượng lộ bình an và nhớ gìn giữ sức khỏe, và kính chúc đoàn hành hương của nước Úc Đại Lợi đến Ấn Độ chiêm bái Phật Tổ sớm được thành tựu viên mãn.


Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma-Ha-Tát,

                                        ___()___

Mùa Phật A-Di-Đà Giáng Sinh PL: 2555 -- 2011

Tỳ kheo Thích Tuệ Uy

Phương Trượng Tu Viện Hộ Pháp

Viết tại Tu Viện Hộ Pháp

3048 Lashbrook Avenue,

El Monte, California 91733, USA


Lời thưa:  Nếu có thời gian với duyên lành đầy đủ, tác giả sẽ cố gắng viết thêm về cuộc đời tu học của tác giả trước khi rời Việt Nam sống các tỉnh miền Tây Nam Bộ, miền Đông, và thành phố Saigon như thế nào qua các cảnh khó khăn của chính quyền đương thời đối với người tu sỹ Phật giáo Việt Nam giúp tác giả trưởng thành và nung đúc ý chí tu học qua những đêm đói lạnh ngủ tạm trong nghĩa trang, các đêm mưa giá lạnh ngoài trời ga Saigon, công viên, chợ quán, trường học, v.v...  Đặc biệt, là những năm tháng gian nan tu học tại nước siêu cường Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, hay các mẫu chuyện của tác giả tự bỏ thân mình vào trong chốn quân trường (US Army Buddhist Chaplain and School), đến việc  đăng quang tốt nghiệp về ngành Nhân-Xã-Vụ Học tại Đại Học Đường Los Angeles, và đi làm với cương vị là một chuyên gia cố vấn tâm lý... Song song với Phật sự lập Đạo Tràng Tu Viện Hộ Pháp, bảo lãnh Tăng Ni lập Đoàn Truyền Giáo hoằng pháp lợi sinh, v.v... 


Cả một cuộc đời thêm vài trang giấy nữa, bạn thích thú và có nhã ý muốn tìm hiểu về con người của tác giả thì xin hoan hỷ kiên trì chờ đợi vài năm hay mười năm, hay lâu hơn nữa, xin cũng hãy rán chờ đợi _()_ Nam mô Thường Thương Kính Bồ Tát _()_


=============================


Bài học kinh nghiệm xin hỏi bạn:


1./ Bạn đọc xong quyển Nhật Ký này, phần nào bạn có cảm xúc nhớ nhất?

2./ Bạn học được những bài học nào từ quyển Nhật Ký này?

3./ Nếu là bạn là tác giả, thì bạn sẽ viết những gì trong quyển Nhật Ký này?

4./ Bạn có ước nguyện hoặc phát nguyện đi về xứ Phật trong đời này hay đời kế tiếp chưa?

Xin bạn vui lòng E-mail về TuVienHoPhap@gmail.com -- Cám ơn bạn thật nhiều --

------------------------------------------------------------------------------

Nhân tiện một lần nữa xin cảm niệm công đức đánh máy của 2 Phật tử ĐDT & ĐDL từ 5 năm về trước, 2006.

Ghi chú: Có những thiếu sót về chính tả lúc đánh máy, lời không suông, văn không hay trong lúc tường trình chuyến hành trình về xứ Phật của Thầy Nguyễn Tăng Thích Tuệ Uy, mong rằng tất cả các bạn đọc và quý Phật tử hoan hỷ cho. Tôi chỉ có một tấm lòng.

No matter the distance between you and Ho Phap Monastery,

the distance between our hearts will never change.

HoPhap Airline -- E-Temple: HoPhap.Net

May Buddha be with you all the way on a safe trip...

Về Quê Nội/Bồ Đề Đạo Tràng/Đất Phật vui vẻ và nhớ gửi hình nhiều về cho Đại chúng vui theo công đức!


=======================================

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Ðoạn nghiệp chướng não phiền
Quả Niết Bàn chứng đạt

Nguyện Chánh Pháp lưu truyền
Phổ cập khắp thế gian
Chúng sanh thường tịnh lạc
Phật Ðạo chóng viên thành

Nguyện đem miệng lưỡi này
Xưng Tụng Pháp Ðại Thừa
Tự nhìn lại lỗi mình
Ðể tiến tu Ðạo Nghiệp

Nguyện đem thân mạng này
Cúng dường Ngôi Tam Bảo
Nguyện biết trước ngày giờ chết
Trở về cõi Cực Lạc

===================================

Bài đọc thêm: 

1).  Sự Tích Ngài Huyền Trang Ði Thiên Trúc Thỉnh Kinh

2).  Câu Chuyện Được Viết Lại Kỷ Niệm 22 Năm Ngày Vượt Biển Tìm Tự Do - Thích Tuệ Uy

Nếu chẳng một phen sương thấm lạnh

Hoa mai đâu dễ tỏa mùi hương.












Phòng Trụ Trì E-Temple: HoPhap.Net
Quay lại In Bài Viết này Gởi cho người thân  
 CÁC BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ
 

Date News :

LỜI PHẬT DẠY
  • "Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo ".
  • "Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng, không rời hình ".
  • "Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi, " Không ôm hiềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi. "Với hận diệt hận thù, Ðời này không có được. Không hận diệt hận thù, Là định luật ngàn thu ".
  • "Ai sống quán bất tịnh, Khéo hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, có lòng tin, tinh cần, Ma không uy hiếp được, Như núi đá, trước gió"
  • "Ai rời bỏ uế trược, giới luật khéo nghiêm trì, tự chế, sống chơn thực, thật xứng áo cà sa."
BÀI VIẾT MỚI



Your IP Address:
54.162.184.214
Country Code:


Country Name:


City:


Region:


Latitude:


Longitude: